• Nhật ký hành hương đất Phật - 2

     

    Nhật ký hành hương đất Phật

    (Tiếp theo)

     .......

     

    20/12/2010 : Trong thời gian chúng tôi ở tại Bodh Gaya, chúng tôi có đi thăm viếng rất nhiều chùa ở các vùng lân cận, chùa Cao-Miên, Tây Tạng, Thái, Nhật, Việt-Nam v.v.…  Chùa Việt-Nam ở đây rất nhiều.

     

    Các chùa Việt-Nam ở bên đây đều rất to lớn, đồ sộ ! Có chùa có tầng cấp đi thẳng từ sân lên chánh điện gần đến trăm bậc, lót đá cẩm thạch, hai bên có hai con rồng lớn, chạy dài uy nghi, lẫm liệt. Trong chùa mọi nơi đều lót đá cẩm thạch. Chúng tôi đến nơi đây trời đã nhá nhem tối. Vườn của chùa rất rộng, nơi đây có tượng đá lớn hai con hạt trắng, nơi nọ có tượng con voi lớn, này kia có ghế đá để ngồi trầm tư, thưởng cảnh dưới bóng cây, nọ có chiếc cầu nhỏ bắc ngang qua con rạch, kia có khóm trúc bên hồ sen v. v. và v.v. chắc ban ngày phải là cực kỳ lông lẫy !

     

    Chúng tôi có đi thăm một ngôi chùa. Chùa có môt trạm y-tê để săn sóc cho dân trong làng. Trên tường có các tranh vẻ : « Phải cắt móng tay cho sạch, phải rửa tay trước khi ăn, phải đánh răng súc miệng, phải tắm rửa thường xuyên  v.v. ». Chỉ như thế cho ta biết ý niệm về vệ sinh của dân chúng nơi đây rất là thấp kém !!! Trạm y tế chỉ có lá cây !

     

    Tại chùa Nhật có bức tượng Phật ngồi trên tòa sen, bằng đá trắng,  người ta bảo là cao nhất thế giới, làm bằng những tảng đá đúc ghép lại. Dưới sân, chung quanh bệ của Phật có các bức tượng của 10 ngài đệ tử lớn.

     

    Ananda : A-Nan, là người em họ của Đức Phật. Là thị giả của Phât. Từ hồi còn nhỏ, ngài A Nan đã đã hết sc khâm phục tài năng và trí tuệ của người anh họ là Siddharta này rồi. Ngài A-Nan có một trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy, và đã viết lại tất cả các kinh, thường nhập đề với câu : “ Như thị ngã văn : ” (Tôi nghe như thế này…)

     

    Sariputa : Xá Lợi Phất, là người anh cả trong các đệ tử của Phật. Khả năng trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất là bậc nhất.

     

    Punna : Mạc Từ Tử, ngài có con mắt đầy lòng từ bi, rất giỏi về việc bốc thuốc trị bịnh. Ngài thuyết pháp rất hay.

     

    Mahakaccana : Ma Ha Ca Chiên Diên, có khả năng thuyết pháp và biện luận bậc nhất. Ngài được Đức Thế Tôn khen ngợi là người có khả năng giải đáp mọi câu hỏi.

     

    Rahula : La Hầu La, con của Phật.  Sau khi Đức Thế Tôn đã có 1250 đệ tử rồi, Ngài mới trở về quê cha. Từ trên cửa sổ của lâu đài, Công Chúa Yasodhara, mẹ của La Hầu La bảo La Hầu La rằng: “Người đi đầu của đoàn người đang tiến vào sân vua là cha của con đó. Con hảy ra đón cha con và đòi gia tài của con đi ”.  La Hầu La chạy ra và Đức Thế Tôn cho La Hầu La cạo đầu đi theo Đức Thế Tôn. La Hầu La là người đệ tử nhỏ nhất khi mới nhập vào tăng đoàn, 9 tuổi. Ngài La hầu La có “mật hạnh” bậc nhất.

     

    Subhuti: Tu bồ đề giải không đệ nhất (non-substantialité).

     

    Upali: Xuất thân từ hạng cùng đinh của xứ Ấn Độ, là thợ hớt tóc. Lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn ra lệnh mỗi gia đình hoàng tộc phải có một người quy y theo Đức Thế Tôn. Upali cạo tóc cho các vương tôn công tử mà cứ khóc hoài. Các Vương tôn công tử mới hỏi:  “Vì sao ông cạo đầu cho chúng tôi mà lại khóc.  Upali trả lời: “Vì tôi thuộc hạng cùng đinh trong xả hội, không làm sao có thể theo hầu Đức Thế Tôn cả.” Chuyện này đến tai Đức Phật, Đức Phật cho phép Upali thọ giới và đi theo chân Phật.

     

    Mahakassapa: Ma Ha Ca Diếp. Là người tu khổ hạnh đệ nhất, thường đi khất thực trong các xóm nghèo khổ hạng nhất.  Có lần Ngài đi khất thực trong một xóm nghèo kia, có một bà già, hết sức nghèo khó, lại bị bịnh phong cùi. Ngài đến khất thực ở nhà bà ta. Bà ta nói, « Kính lạy ngài, tôi nghèo quá và không có gì để hiến dâng Ngài cả ». Ngài Ca Diếp, chỉ chén sữa đã lưng để ở trên bàn. Bà ta hết sức sợ, vì chén sữa này bà ta đã có uống rồi. Nhưng Ngài Ca Diếp vẫn cứ chỉ chén sữa, bà ta liền bưng chén sữa đến dâng Ngài Ca Diếp, nhưng một lóng tay của bà rụng, và rơi vào trong chén sữa. Ngài Ca Diếp liền uống chén sữa đó, tức thì bà ta chứng được quả phúc vô thượng, sinh lên cõi trời.

     

    Ngài Ma Ha Ca Diếp được Đức Thế Tôn nhường cho nửa toà ngồi và giao cho trọng trách giữ y, bát của Đức Thế Tôn để trao lại cho đức Phật tương lai.

     

    Mahamoggallana : Mục Kiền Liên, ngài có thần thông bậc nhất, đã từng lên cõi trời Hương Tích để kiếm thức ăn về dâng Đức Thế Tôn, vì lúc đó đang bị nạn đói khủng khiếp ở thế gian. Chúng ta cũng biết nhiều về ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ qua kinh Vu-Lan Bồn.

     

    Anuruddha : Xuất thân từ dòng họ Thích. Nhân thiên ứng cúng (oeil divin) đệ nhất.

     

    Trong các đệ tử của đức Thế Tôn có hai người không được phép nhập Niết bàn : ngài Ma ha Ca Diếp và ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa. Ngài Ma Ha Ca Diếp phải ở lại thế gian để giữ y, bát của Đức Thế Tôn và trao lại cho đức Phật Tương lai. Ngài Tân Đầu Lô có thần thông rất cao ; có một người trong làng thường hay nghịch, dâng cổ cúng dàng hay để trong giỏ, và treo trên ngọn cây cao. Ngài Tân Đầu Lô lúc nào cũng dùng thần thông lên cây lấy xuống.  Đức thế Tôn đã cấm không được dùng thần thông, vì sợ rằng dân chúng hiểu nhầm mục đích tu học là để đạt được thần thông, vì thế khi đức Thế Tôn biết, liền đuổi ngài Tân Đầu Lô sang xứ trời khác. Một thời gian lâu sau, các đệ tử khác rất buồn và nhớ người bạn Tân Đầu Lô rất vui tánh này, mới xin đức Thế Tôn cho phép ngài Tân Đầu Lô trở về. Đức Thế Tôn cho phép trở về, nhưng không cho phép nhập Niết bàn mà phải ở lại thế gian để chứng giám cho chúng sanh cúng dường.

     

    Ở chùa Cao-Miên, có một bức tranh vẻ một người đàn bà đang có thai, đứng trước đại chúng chỉ mặt đức Thế Tôn. Thầy Thích Nguyên Hùng giảng, với giọng một người đàn bà  : « Hắn đó, hắn là người cha của cái bào thai tôi đang mang đây »... nhưng sau đó bà ta vấp và ngã ra trước sân, trước đại chúng, cái bào thai chỉ là cái gối bà dấu ở trước bụng đã rớt ra ngoài ! Tất cả chúng tôi được một phen cười nứt bụng với cách kể hài hước của Thầy.

     

    22/12/2010 : Thăm núi Kê Túc (Kukkatapada), viếng hang nơi Ngài Ma Ha Ca Diếp ẩn thân để chờ Phật Di-Lặc ra đời. Tôi không đi được, vì đường lên núi rất cheo leo, và hôm đó tôi quá sức bịnh. Tôi hết sức tiếc đã không đi được. 

     

    Chiều đi viếng làng của cô thôn nữ Sujata và nền đất nhà cũ của chú mục đồng đã dâng cỏ Kusa cho Phật.

     

    23/12/2010 : Đi thăm Khổ Hạnh Lâm (Mahakala).  Nơi đây Đức Phật đã tu sáu năm khổ hạnh. Đường lên núi rất cao, nhưng có lót gạch dễ đi, có thể mua gậy để chống. Người già yếu có thể thuê cáng. Khách hành hương rất đông, không phải chỉ có mỗi nhóm của chúng tôi mà thôi.

     

    Tôi đã cố gắng đi lên bộ, nhưng phải nghỉ chân nhiều nơi để lấy lại sức. Các bạn trẻ trong nhóm có người đi lên núi « tam bộ nhất bái » (ba bước thì sup lạy một lạy). Ở bên đường lên núi có rất nhiều khỉ. Tôi thấy nhiều khách hành hương đã mua bánh bích quy, bán bên lề đường, để vất cho khỉ ăn. Trong khi đó người ăn xin ngồi hai bên đường rất đông họ không thèm để ý đến. (Tôi hết sức khó chịu …!!!)  Đặc biệt ở tại đây, các người ăn xin ngồi rãi rác và không bu xúm lại mỗi khi có người cho tiền hay vật thực.

     

    24/12/2010 : Đi thăm và tặng quà các em học sinh ở trường học do Ni sư Từ-Tâm làm hiệu trưởng (tập vở, bút v.v.… và kẹo).

     

    25/12/2010 : Ngày vía Đức Phật A Di Đà.

     

    Đức Phật A di Đà đã thành tựu được 48 đại nguyện để cứu độ chúng sinh. … « Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh… » như trong kinh chúng ta vẫn đọc (như con két !)  trong đó, đại nguyện thứ 18 là pháp môn niệm Phật. Bất luận ở hoàn cảnh nào, trình độ học vấn nào, bất luận giàu sang hay nghèo khó thế nào, cũng đều có thể niệm « Nam mô A Di Đà Phật ». Chỉ cần chí thành niệm 10 câu là có thể vãng sanh Tịnh Độ. Nghe danh hiệu Phật thì phát bồ đề tâm. Tuy nhiên không phải ai cũng làm được !

     

    Đi thăm núi Linh Thứu (Gijjhakũta - Vulture Peak), nơi Phật giảng kinh đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa và nhiều kinh khác.

     

    Thăm phế tích ngục tù của vua Tần-Bà-Sa-La (Vua bị con là A-Xạ-Thế dành ngôi, và giam vua trong ngục tối) ; và phế tích lãnh cung hoàng hậu Vi-Đề-Ni, vợ của vua Tần-Bà-Sa-La, nơi đây bà đã thỉnh cầu đức Phật cho bà pháp môn tu học để đến cảnh giới an lành, thoát khỏi cảnh khổ đau của kiếp người.  Nhân đó Phật giảng kinh Pháp Vô Lượng Thọ. Bà Vi-Đề-Ni đã quán thấy hiện tiền cảnh giới tịnh độ A-Di-Đà.

     

    Tối : Lễ quy y của 5 bạn trong nhóm hành hương, tại Bồ Đề Đạo Tràng. Đêm nay là đêm cuối cùng ở tại đây, ngày mai sẽ lên đường vĩnh viễn rời đây.  Bổng nhiên tôi cảm thấy nhói lên một niềm nuối tiếc !

     

    26/12/2010 : Sáng sớm, rời chùa Viên Giác.

    Trên đường đi Népal, chúng tôi ghé thăm chùa Kiều Đàm Di, do một ni sư Việt-Nam trụ trì, và nhiều thánh tích khác.

     

     

    Nalanda. Bây giờ chỉ còn là một phế tích, với các nền gạch, trên một khu đất rộng mênh mông. Đây là trường đại học đầu tiên trong lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ. Trường được xây cất lại bằng gạch vào thế kỷ thứ 5 Tây lịch, và là trường đại học có nội trú đầu tiên của toàn thế giới. Trường phát triển rất nhanh và nổi tiếng khắp vùng Châu Á, đã lôi cuốn rất nhiều sinh viên tu sĩ từ Tây Tạng, Miến Điện, Trung Quốc, Nam Dương, Đài Loan, Nhật Bản v.v. Lúc cực thịnh trường có đến 10,000 sinh viên.

     

    Ngài Huyền Trang (mà chúng ta rất quen biết qua truyện Tây Du Ký) đã tu học ở đây, thỉnh kinh về Trung Quốc, và sau đó dịch sang tiếng hán, để rồi từ đó Phật Giáo được lan truyền xuống Việt-Nam. Ở tại đây, theo trong kinh, đức Phật thường trú tại « vườn xoài ».

     

    Trong khuông viên trường có rất nhiều khỉ. Sau lưng tôi có người nói « Coi chừng khỉ ! Chúng giật xách của khách hành hương, nghĩ rằng trong đó có thức ăn, vì khách hành hương hay cho chúng nó ăn ». Khỉ ở đây rất bạo dạn. (Tôi bất giác cười thầm, nếu mà bi khỉ nó giật xách tay thì làm sao mà rược bắt được chúng, chúng nhảy từ cây này sang cây khác từ trong tường rào ra cây ngoài đường !) Câu chuyện này làm tôi sực nghĩ, tôi không thấy trẻ em móc túi hay cướp giật ngoài đường trong mấy ngày qua. Một điểm đáng khen. Ngoài ra còn một điểm nữa tôi để ý, người Ấn Độ sống hiền hòa với nhau, nhà này kế liền nhà khác, không có hàng rào phân chia nhà này nhà khác… không có ý niệm « đây là của tôi » … v.v.

     

    Thăm Vaisali.  

     

    Thăm di tích giảng đường Trùng Các, nơi có ao Di hầu do bầy khỉ đào cho đức Phật tắm, và trụ đá do vua A-Dục Ashoka trồng (đế đánh dấu nơi có di tích của Phật) vẫn còn nguyên vẹn.

     

    Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, Bà Maha Gautami, nhũ mẫu của đức Phật, cùng với 500 tỳ nữ đến xin xuất gia theo chân đức Thế Tôn. Bà Gautami cùng các tỳ nữ đi bộ từ thành Ca Tỳ La Vệ đến Vaisali, chân của các bà rách nát, máu nhuộm đỏ đất. Nhưng có nhiều nguyên nhân làm cho Đức Phật không muốn nhận đệ tử người nữ. Tuy nhiên khi tôn giả A-nan hỏi : « Người nữ có khả năng thành Phật không ? » thì đức Thế Tôn trả lời là có, và sau đó Bà Gautami cùng đoàn tỳ nữ được xuất gia theo chân Phật.

     

    27/12/2010 : Viếng thăm vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) ở miền nam Népal, sát biên giới Ấn Độ. Đây là nơi Phật đản sanh có dấu tích ghi lại trên trụ đá của vua A-Dục và các đền, tháp truy niệm từ thế kỷ thứ III trước tây lịch cho đến thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Đây là một trong những địa điểm hành hương quan trọng nhất của một trong những tôn giáo lớn trên thế giới.

     

    Cách nay hơn 2500 năm, Hoàng Hậu Maha Maya, vợ vua Tịnh Phạn Shuddhodana của xứ Ca Tỳ La Vệ, nằm mơ một giấc mơ thật kỳ lạ.  Một con voi trắng sáu ngà và rực sáng đi đến và tan biến vào cơ thể của bà. Hoàng hậu tỉnh dậy và cảm thấy một niềm yên vui không bờ bến, như chưa bao giờ bà cảm được như thế. Các hiền nhân được tham khảo cho biết rằng Hoàng hậu sẽ sinh một vĩ nhân.  Khi sắp đến ngày sinh, theo tục lệ thời bấy giờ, bà trở về quê mẹ, đi cùng với một đoàn tỳ nữ. Trên đường đi bà ghé lại một vườn hoa đẹp Lâm Tỳ Ni  để thưởng ngoạn. Và tại đây, níu vào một cành cây, hoàng hậu đã sinh thái tử Siddharta. 

     

    Năm đó là năm 623 trước tây lịch.

     

     

    28/12/2010 : Thăm phế tích thành Ca Tỳ La Vệ ở sát biên giới Népal. Nơi đây thái tử Siddharta đã sống suốt cuộc đời niên thiếu cho đến năm 29 tuổi.

     

    Có rất nhiều chuyện nhiệm mầu đã xảy ra lúc thái tử Siddharta ra đời, do đó các hiền nhân đã tiên đoán rằng thái tử sẽ là một bậc vĩ nhân, một vì vua rất lớn.  Vua Tịnh Phạn rất hài lòng nghĩ rằng con mình sẽ là một vị vua còn quyền lực hơn cả chính mình nữa.  Nhưng có một hiền nhân lại nói rằng “sau này thái tử sẽ chọn một cuộc sống nghèo khổ để cứu nhân độ thế”. Vua Tịnh Phạn hết sức lo. Vua cho xây ba cung điện cực kỳ lộng lẫy phù hợp cho ba mùa: xuân, hạ, và thu-đông, đầy hoa thơm cỏ lạ, với ca nhạc đàn hát quanh năm, không thiếu một thứ gì có thể làm cho thái tử vui sống. Các tỳ nữ và người làm việc có bổn phận phải luôn có một nét mặt vui tươi, và phải luôn luôn làm cho thái tử vui, để không bao giờ có ý định rời bỏ cung điện. Thái tử sống ở đây, loanh quanh trong ba cung điện này, không bao giờ bước chân ra ngoài, không bao giờ thấy dân chúng ở bên ngoài thành, được vua cha che chở, bảo bọc không cho Thái tử nhìn thấy hay biết đến các khổ đau của cuộc đời.

     

    Năm thái tử 29 tuổi vua cha nghĩ rằng đã đến lúc nên nhường ngôi lại cho con. Thái tử xin phép vua cho đi ra ngoài xem tình hình dân chúng. Vua cha cho phép vì nghĩ rằng con mình phải biết tình hình dân chúng để cai trị. Trong chuyến đi này, Thái tử đã nhìn thấy các khổ đau của cuộc đời, cảnh người già, người bệnh, người chết bị thiêu trên giàn hỏa … những khổ đau mà không ai tránh khỏi được. Thái tử quyết định rời bỏ cung điện để đi tìm Chân Lý : do đâu có khổ đau, làm sao diệt được khổ đau.

     

     

    Thăm Tịnh Xá Kỳ viên ở Sravasti.

     

    Khu vườn này do trưởng giả Cấp-Cô-Độc Anāthapindika dâng cúng cho đức Thế Tôn. Ông ta đi tìm kiếm khắp nơi, chỉ thấy nơi này là đẹp và thích hợp hơn cả nên đã năn nỉ Thái tử Kỳ-Đà Jetakumāra, con vua Ba-Tư-Nặc của thành Xá Vệ (Sravati) bán lại cho ông khu vườn này để chuẩn bị đón Phật cùng tăng đoàn.  Thái-Tử Kỳ Đà nói: “Ông không mua được đâu, chừng nào ông trải được vàng đầy khu vườn tôi mới bán.” Cấp Cô Độc bằng lòng và cho đem xe ngựa, xe voi, chở đầy vàng đến. Nhưng các chuyến xe đầu tiên này chưa đủ để lót hết khu vườn, còn một phần đất gần cửa chưa được lót vàng, Cấp Cô Độc liền sai chở thêm vàng đến. Nhưng trước sự hân hoan, vui mừng của Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà đã hết sức xúc động, liền năn nỉ Cấp Cô Độc nhường lại cho Thái tử phần đất này, xem như là phần đóng góp của thái tử và hai người cùng nhau xây dựng trang trại để chuẩn bị đón đức Thế-Tôn cùng tăng đoàn. Các kinh đều nhắc đến khu vườn này là Kỳ-Thọ Cấp-Cô-Độc viên (Bosquet Jeta-Anathapindika).  

     

    Đa số kinh điển đều được đức Phật giảng tại đây như trong kinh A Di Đà, ta vẫn thường đọc: “Như thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc Kỳ-Thọ Cấp-Cô-Độc viên…

    Đức Thế Tôn an cư tại đây 24 mùa mưa.

    Tại vườn Cấp Cô Dộc này chúng ta thấy có một mô gạch xây cao, đó là vị trí mà vua các nước lớn đã đắp xây lên để đón Phật trở về sau khi Phật lên viếng các cỏi trời khác.

     

     

     

     

     

     

     

    Xem tiếp ở trang sau

     

     


  • Commentaires

    Aucun commentaire pour le moment

    Suivre le flux RSS des commentaires


    Ajouter un commentaire

    Nom / Pseudo :

    E-mail (facultatif) :

    Site Web (facultatif) :

    Commentaire :