Your passionate fingers
Translated by Kitty
For ever I’ll sing my lullaby
Praising the langorous stream of your hair,
Your slender fingers,
On your luxuriant hair.
I sing of your frail fingers,
I’ll sing for thousands more years.
Sleep, my sweet heart
The rain’s lulling you
Your closed hands are like a flower bud
The sap of my life
The nourishing sap of a whole life
Spring just arrived
I’m overwhelmed by regrets
For ever I’ll sing my lullaby
Praising your passionate fingers
Your lovely hands
I’ll sing for thousands more years
All griefs forgotten
Your silhouette will outlast
Eternally over thousands years
For ever I’ll sing my lullaby
Praising your sweet lips
And your lovely hands
That make my sore heart languish
I sing of your sulky expression
I’ll sing over thousands more years
Sleep, my sweet heart,
The rain’s lulling you
Your closed hands are like a flower bud
The sap of my life
The nourishing sap of a whole life
Spring just arrived
I’m overwhelmed by regrets
For ever I’ll sing my lullaby
Praising your rosy cheeks
Your hands transport me to a luxurious land
To a horizon of forgetfulness
Your hair brings back a sky in the past
Over more than thousands years
Only the lyrics of my lullaby will outlast
They will resonate in this corner of sky
Where would pervade an early spring
They will sing for ever
Over thousands more years
Lulling to sleep someone !
***
Ru em từng ngón xuân nồng
Ru mãi ngàn năm
Giòng tóc em buồn
Bàn tay em năm ngón
Ru trên ngàn năm
Trên mùa lá xanh
Ngón tay em gầy
Nên mãi ru thêm ngàn năm
Thôi ngủ đi em
Mưa ru em ngủ
Tay em kết nụ
Nuôi trọn một đời
Nuôi một đời người
Mùa xuân vừa đến
Xin mãi ăn năn mà thôi
Ru mãi ngàn năm
Từng ngón xuân nồng
Bàn tay em năm ngón
Anh ru ngàn năm
Giận hờn sẽ quên
Dáng em trôi dài
Trôi mãi trôi trên ngàn năm
Ru mãi ngàn năm
Từng phiến môi mềm
Bàn tay em trau chuốt
Thêm cho ngàn năm
Cho vừa nhớ nhung
Có em dỗi hờn
Nên mãi ru thêm ngàn năm
Thôi ngủ đi em
Mưa ru em ngủ
Tay em kết nụ
Nuôi trọn một đời
Nuôi một đời người
Mùa xuân vừa đến
Xin mãi ăn năn mà thôi
Ru mãi ngàn năm
Vừa má em hồng
Bàn tay đưa anh đến
Quê hương vàng son
Vào trời lãng quên
Tóc em như trời xưa
Đã qua đi ngàn năm
Còn lời ru mãi
Vang vọng một trời
Mùa xanh lá vội
Ru em miệt mài
Còn lời ru mãi
Còn lời ru này
Ngàn năm ru hoài
Ngàn đời ru ai ?
Publié par chieuduongvien à 10:31:31 dans Trinh Công Son | Commentaires (0) | Permaliens
Trần Dạ Từ
Lần đầu ta ghé môi hôn,
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang.
Vườn xanh cỏ biết trưa vàng,
Nghìn cây phượng vĩ bàng hoàng trổ bông.
Trên môi ta nở phượng hồng,
Hôn em trời đất một lòng chứa chan.
Tiếng cười đâu đó dòn tan,
Nụ hôn ngày nọ miên man một đời.
Hôm nay chợt nhớ thương người,
Tiếng ve ngày nọ rụng rời vai anh.
Trưa vàng, cỏ biết, vườn xanh,
Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xua.
The first time I bent down for a kiss,
Bewildered, the tiny cicadas started singing in unison.
The garden, luxuriant, under the bright afternoon sun,
Thousands of flamboyant trees, suddenly bloomed.
On my lips a flame-red flower blossomed,
By my love, the entire universe was overwhelmed,
Somewhere a crystal clear laugh was heard,
That kiss of old would last for ever...
Today a memory suddenly re-emerges,
The cicadas’ notes wistfully drop on my shoulders,
The luxuriant garden stretches under de bright afternoon sun,
Whose lips are blooming red on the old flamboyant tree?
***
Publié par chieuduongvien à 07:39:37 dans Poèmes | Commentaires (0) | Permaliens
Tôi đi hành hương đất Phật
Tôi quyết định đi theo đoàn hành hương do chùa Vạn Hạnh ỏ Nantes tổ chức từ cuối tháng 8, 2010. Làm các thủ tục vé máy bay, passport và visas xong xuôi từ cuối tháng mười. (Các bạn nên nhớ rằng passport của bạn phải còn có giá trị tối thiểu 3 tháng sau ngày rời Ấn Độ trở về. Nếu bạn rời Ấn Độ ngày 01/01/2011, thì passport của bạn phải còn giá trị tối thiểu là đến 01/04/2011. Visas vào ra Ấn Độ, phải là « Double entries ») Xong xuôi tất cả, tôi phủi tay tự nhủ, bây giờ thì chỉ còn chờ ngày đi mà thôi, và tôi vui thú thở ra nhẹ nhỏm trong người.
Không ngờ 2 tuần lễ trước ngày đi, tôi bỗng nhiên phát bệnh đủ thứ, mà không phải là bệnh tầm thường. Hủy bỏ chuyến đi hành hương chăng ? Không, không thể được ! Tôi đã hứa với một bà bạn sẽ cùng đi hành hương với bà ta, vã lại, cũng đã hứa với Thầy trên chùa Vạn Hạnh rồi, không thể nay nói đi, mai nói bỏ, lôi thôi như vậy. Tôi quyết dịnh đi sau khi hỏi ý kiến các bác sĩ của tôi. Họ đã cho phép tôi đi với đủ điều căn dặn cặn kẽ !!!
15/12/2010 : Ngày ra đi đã đến (quá nhanh đối với tôi lúc đó !). Người em họ của bà bạn tôi đưa chúng tôi đến phi trường Bordeaux lúc 3 giờ sáng. Chúng tôi bay từ Bordeaux sang Amsterdam. Ở đây chúng tôi gặp được nhóm của Chùa Vạn Hạnh từ Nantes ở Pháp sang, một nhóm Phật tử khác từ Đan Mạch (Danemark), và một bà Phật tử đơn độc từ bên Đức đến. Chúng tôi cùng lấy máy bay đi New Delhi, và đến New Delhi lúc 1 giờ sáng ngày 16/12/2010. Ở đây chúng tôi gặp thêm hai nhóm nữa đang chờ chúng tôi tại phi trường, một từ Việt-Nam sang, và một từ Úc Châu sang. Một sư cô người Việt, Sư cô Tuệ Đàm Hương, đã từng du học ở Ấn Độ, từng làm Phật sự xây dựng chùa Viên Giác ở Ấn Độ, và hiện đang ở tại đây, đón chúng tôi đưa về khách sạn ở New Delhi, để tạm nghỉ đêm tại đó.
Trong nhóm đệ tử của chùa Nantes, có 4 bà người Pháp, và có một bà đệ tử cũng của chùa Nantes sành các danh từ Phật học, làm thông dịch viên cho mấy bà Pháp này.
16/12/2010 : Chúng tôi lấy máy bay di Varanasi. Ngoại trừ quảng đường này là chúng tôi đi bằng máy bay, sau này tất cả các di chuyển khác dều được thực hiện bằng xe buýt.
Cuộc hành hương của chúng tôi kể từ ngày này trở đi, mọi chuyện đều do Sư Cô Tuệ Đàm Hương sắp xếp, tổ chức, lo về khách sạn, nơi ăn uống, và xe buýt cho toàn cả đoàn. Ba mươi lăm người tất cả, gồm có Thượng Tọa Thích Thiện Huệ từ Việt-Nam sang, Thượng Tọa Thích Nguyên Lộc, Trụ trì của chùa Vạn Hạnh ở Nantes, Thượng tọa Thích Nguyên Hùng, Sư Cô Tâm-Nghĩa ở chùa Nantes, Sư Cô Tuệ Đàm Hương, và tất cả chúng tôi, người thế gian trần tục, từ bốn phương trời góp mặt. Tôi là người lớn tuổi nhất trong nhóm nên được dành cho ưu tiên. Trên xe buýt được ngồi phía trước ít xóc, vì đường rất xấu, xóc kinh khủng !
Sư Cô Tuệ Đàm Hương tổ chức hết sức chu đáo, vì đã có nhiều kinh nghiệm. Chúng tôi được phát mỗi người một chiếc nón vải giống nhau để dễ nhìn ra nhau, khỏi bị lạc. Trên xe buýt, thì chúng tôi được yêu cầu ai ngồi ở đâu, thì ngồi y nguyên ở đó trong suốt cuộc hành hương, và phải để ý người bên cạnh của mình, có mặt hay còn thiếu ở trên xe, mỗi khi lên xe để rời đi nơi khác.
Trên xe buýt của chúng tôi có một ông hướng dẫn viên, một tài xế và một lơ xe người Ấn. Ông hướng dẫn viên này cũng hiểu biết khá nhiều về lịch sử các thánh tích. Mỗi lần lên xe để đi nơi khác ông ta đếm đầu chúng tôi một cách hết sức có trách nhiệm ! Những người này họ làm việc cho chúng tôi gần như mỗi ngày 14-16 tiếng đồng hồ !
Lịch trình viếng thăm các thánh tích được sắp xếp theo sự thuận tiện của con đường đi, chứ không dựa theo thứ tự các sự việc đã xảy ra trong lịch sử. Bốn nơi chính yếu, gọi là tứ động tâm, của cuộc hành hương là : Nơi Đức Phật Thích Ca sinh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển Pháp luân (giảng Pháp lần đầu tiên), và nơi Phật nhập niết bàn.
Tại mỗi thánh tích, Thầy Thích Nguyên Hùng giảng cho chúng tôi nghe những gì đã xảy ra ở đó, và những mẫu chuyện con con, vui cuời... Sau đây tôi xin ghi lại những gì tôi đã nghe và ghi chép lại được giữa những cơn ho rủ rượi của tôi. Vì bên đó, mùa này trời cũng lạnh lắm. Sau 2 ngày ai cũng đổ xuống bịnh hết, không sót một ai !!!
Ở Varanasi chúng tôi nghỉ hai đêm 16 và 17/12/2010 tại khách sạn. Chúng tôi di thăm viếng Đạo Tràng Chuyển Pháp Luân, Viện Bảo Tàng và Vườn Lộc Uyển.
17/12/2010 : Tại Vườn Lộc Uyển (vườn nai) này, đức Thế Tôn, đã giảng Pháp lần đầu tiên, và là giảng cho năm anh em Kiều Trần Như. Năm người này trước đây là bạn cùng tu khổ hạnh với Đức Thế Tôn, họ đã hết sức khâm phục Đức Thế Tôn ở ý chí tu khổ hạnh của Ngài. Ở đây bản kinh Chuyển Pháp Luân được dịch ra nhiều thứ tiếng, và khắc trên bảng đá. Tôi đã vô cùng xúc động thấy có bản dịch tiếng Việt góp mặt ở đây.
Chúng tôi viếng thăm Đạo-Tràng, xưa hơn 2000 năm, nay chỉ còn là một phế tích, với ngọn tháp Dhamek cao hơn 30 thước uy nghi, dũng liệt, và vườn Lộc Uyển. Có các trẻ em bán thức ăn (trái cây dại) cho nai ăn. Và khách hành hương được vui thú cho nai ăn, vuốt ve đầu các con nai có đôi mắt hiền lành. Bổng nhiên tôi nghe đau nhói trong tim, đôi mắt của chúng sao mà có một nét buồn vô bờ bến ! (Vườn nai có hàng rào sắt kiên cố ! ) .
Tối ăn cơm xong chúng tôi được nghe Thầy Thích Nguyên Hùng giảng :
* Xã hội Ấn Độ là một xã hội bất bình đẳng nhất qua sự phân chia nhiều giai cấp. Có bốn giai cấp chính gọi là "castes", có thứ tự quan trọng khác nhau, cha truyền con nối và một giai cấp thứ 5, gọi là ngoại lệ "hors-caste", những người thuộc giai cấp này gọi là "intouchables", không chung đụng được. Giai cấp này bị khinh miệt nhất trong xă hội. Đức Phật là nhà cách mạng giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người, tôn trọng quyền bình đẳng. Ngài nói : « Không có giai cấp khi ai ai cũng có nước mắt cùng mặn, có máu cùng đỏ ».
* Ấn độ là xứ có nhiều tôn giáo nhất, hơn 90 tôn giáo khác nhau, nhưng không một tôn giáo nào giải quyết được vấn đề căn bản của kiếp người, đó là làm sao chấm dứt khổ đau : sinh, lão bệnh, tử. Đức Phật ra đời để chỉ giáo cho chúng sinh vấn đề này.
* Đất nước này có nền văn minh xưa nhất của nhân loại: Đạo Phật là tinh hoa tuyệt đỉnh của nền văn minh nhân loại, là thông điệp từ bi và trí tuệ, là con đường đi đến hạnh phúc tối thượng.
* Vì đây là một xứ dân nghèo, lầm than, đầy khổ đau. Chỉ có những người có tâm lượng như chư Phật và Bồ Tát mới có thể dang tay ra để cứu vớt.
18/12/2010 : Chúng tôi đi viếng thăm sông Hằng (Gange).
Trên đường đi thăm sông Hằng, chúng tôi bị kẹt xe vì gặp các cuộc rước lễ của các giáo dân thuộc Bà La Môn giáo, đông nghẹt cả đường.
Sông Hằng đối với người Ấn Độ không những rất là quan trọng về mặt địa lý, mà còn mang một tính chất linh thiêng, tôn giáo nữa. Sông Hằng, dài 3090km, xuất phát từ dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, (chóp đĩnh cao của toàn qủa địa cầu), chảy băng qua Kanpur, Bénarès, và Patna, để ra biển trong vịnh Bengal. Người Ấn Độ, (Ấn Độ giáo, Hồi Giáo và Bà La Môn giáo v.v.…) tin tưởng rằng nước sông Hằng có thể gột sạch các tội lỗi của con người, và đưa con người lên thẳng thiên đường. Ngoài ra ở Ấn Độ còn có đạo thờ nước. Nhưng trong kinh Phật, thì ta chỉ thấy « Hằng-hà sa » được nhắc đến để ám chỉ một số nhiều không thể đếm được như cát của sông Hằng. Người Ấn Độ cũng tin tưởng rằng lửa có thể làm tiêu tan các tội lỗi của con người, nên phong tục ở đây từ xa xưa đến nay, người chết được thiêu, xong đổ tro xuống sông Hằng. Tỷ số người Ấn Độ theo Phật giáo ở trong nước không quá 10%.
Ở đây chúng tôi thuê thuyền ra xa xa ngoài giòng sông để thả các đĩa hoa nhỏ trong đó có một ngọn nến, với ý nghĩa soi sáng, dẫn đường cho các vong hồn ở nơi đây, cùng với lời tụng kinh và cầu nguyện của chúng tôi.
Dọc bờ sông, dân trong vùng tắm và giặt rửa, phơi từng tấm sari dài trên các bậc cấp, vì thế dọc bờ sông Hằng màu sắc rất là rực rỡ. Cũng dọc bờ sông, có các bệ xi măng để thiêu, và các vựa chứa củi. Tục lệ người Ấn Độ từ xa xưa tới nay là chết thì thiêu. Người giàu mua được nhiều củi thì thiêu dược trọn vẹn chỉ còn tro. Người nghèo chỉ mua được dăm ba cây củi, xác đôi khi vẫn còn nguyên, và cứ y như thế được thả xuống sông !
Chỉ sau vài vòng trên xe buýt, chúng tôi nhận thức nhìn thấy dân Ấn Dộ tại các vùng này rất nghèo khổ, nhìn các túp lều rách nát hai bên đường ... Người ăn xin rất nhiều. đàn ông, đàn bà, trẻ con, người tàn tật …, nhất là ở các nơi thánh tích có nhiều du khách hành hương, có cả hàng trăm người ăn xin !
Đường Ấn Độ đầy cả bụi. Lá cây bên đường đều bị phủ một lớp bụi dày, dày đến nỗi mà mưa không rửa sạch được ! Bò đi lang thang, đủng đỉnh ngoài đường. Xe cộ phải tránh chúng. Phân bò được người Ấn Độ (dùng tay) ép lại thành bánh, phơi trên các bải cỏ bên vệ đường, hay dán vào tường rào để phơi, khi khô họ dùng để đun bếp.
Rau cải thấy bày bán ở các chợ có đủ các loại rau như ở Việt-Nam ta, rau rất xanh tươi, chắc chắn là rất ‘BIO’, được trồng bằng phân heo, phân bò và có lẽ cả với phân người nữa !!! Chúng tôi được khuyên chỉ nên dùng nước trong chai để uống, không nên uống nước từ vòi nước, cho dầu chỉ để đánh răng súc miệng. Tôi tự hỏi « rau sống ăn ở chùa có được rửa bằng nước trong chai không ? » Đêm đầu tiên đến chùa Viên Giác, tất cả chúng tôi vì đi đường xa đói quá, đều đổ vồ xuống ăn bát bún riêu của chùa, thật là ngon, ‘ngon kinh khủng’, sau mấy ngày ăn các món đồ ăn chay cà ri Ấn Độ tại các khách sạn, chán ơi là chán, không hợp khẩu vị chút nào. Hôm ấy được tô bún riêu, với rau sống tươi xanh, trông thật sạch sẽ, thật hấp dẫn. Ngày hôm sau tất cả chúng tôi đều đau bụng ! Tôi nghĩ thầm « cần phải rửa rau bằng thuốc tím (permanganate de potassium) ! ».
Chiều, chúng tôi rời Vanarasi để đi Bodh Gaya bằng xe búyt. Tại Bodh Gaya chúng tôi ngụ tại Chùa Viên Giác, cách Bồ Đề Đạo Tràng chưa đầy 10 phút đi bộ. Chúng tôi đến đây vào khoảng 7 giờ, trời đã tối. Tại đây chúng tôi ở lại lâu nhất trong cuộc đi hành hương. Chùa có nhiều phòng cho khách thập phương, khá tiện nghi, có phòng ăn lớn, và có chánh điện rộng để tối tối chúng tôi lên đọc kinh và nghe Thầy giảng Pháp.
19/12/2010 : Bồ Đề Đạo Tràng ở Bodh Gaya
Mỗi ngày, 5giờ sáng chúng tôi ra đi, đến Bồ Đề Đạo Tràng đọc kinh bên gốc cây bồ đề nơi Phật thành đạo. Có tường đá xây cao rào quanh gốc cây bô đề. Chúng tôi mỗi người đều có được phát cho một cây đèn « pin » bấm.
Thật ra cây bồ đề nguyên thủy nơi Phật ngồi, qua bao nhiêu cuộc nội chiến tôn giáo, người ngoại đạo thấy dân đến sùng bái bên gốc cây bồ đề nên đã chặt và đốt gốc cây bồ đề này. Nhưng sau đó, một mầm bồ đề con đã trổi lên từ đám tro tàn này, và đó là cây bồ đề ta thấy bây giờ, vì thế ta thấy gốc bồ đề này nhỏ hơn gốc cây bồ đề mà ngài A-nan đã cho trồng tại Tịnh Xá Kỳ Viên.
Cạnh gốc bồ đề, có một tháp được xây lên cao trên 60m, vào khoảng thế kỷ II-III sau Tây lịch. Tháp này qua bao nhiêu thế kỷ đã được tu sửa lại nhiều lần, mặt đáy của tháp là một hình vuông trên 35m mỗi cạnh. Đó là trung tâm của đạo tràng. Đạo tràng nằm trong một thung lũng, ở ngoài bước vào đạo tràng phải đi xuống rất nhiều dãy cấp. Chung quanh tháp có lối đi rộng lát đá cẩm thạch (marbre). Người sùng đạo và khách hành hương từ tứ phương trời đến đây lễ bái và đi kinh hành rất đông, vì thế chúng tôi mỗi ngày ra đây từ lúc 5g sáng để có thể kiếm được một chỗ ngồi cho toàn cả đoàn 35 người. Có rất nhiều đoàn hành hương khác, Thái, Nhật, Trung Hoa, Tây-Tạng … và cả Việt-Nam nữa. Chúng tôi đến đây nhằm lúc có ngài Karmapa-Lama đến viếng đạo tràng. Ngài Karmapa-Lama này là hóa thân lần thứ 17 của một vị Karmapa-Lama trong thời xa xưa, vì thế đạo tràng rất đông. Các sư Tây-Tạng áo đỏ và áo vàng đến đây rất nhiều, nghẹt cả các tầng sân cỏ chung quanh đạo tràng. Ở đây lúc nào cũng có treo đèn kết hoa (hay là vì đặc biệt có ngài Karmapa-Lama đến thăm ?), và là hoa thật, (tôi đã có sờ thử) phần nhiều là hoa vạn thọ vàng xâu thành chuổi. Các tượng Phật trong chánh điện cũng như các tượng nhỏ ở ngoài, cả hàng trăm tượng trên thành tháp, đều có vòng hoa choàng qua cổ. Nơi nơi đều có thấy vàng lá (feuilles d’or) dán lên bất cứ nơi nào tay người vói thấu.
Sau khi rời bỏ cung điện, và trên con đường đi tìm Chân Lý, Thái Tử Siddharta đã gặp một nhóm người tu khổ hạnh, nhóm anh em Kiều Trần Như. Ngài đi theo các người này. Sau sáu năm tu khổ hạnh quá nghiêm túc (mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè), thân thể của Ngài chỉ còn da bọc xương. Một hôm nọ Thái Tử đi ra sông để tắm, Thái Tử đã ngất xỉu và được cô thôn nữ Sujata đi ngang qua đó, cúng dường một tô sữa. Thái Tử nhờ thế đã tỉnh lại, và sau đó hiểu rằng con đường tu khổ hạnh không thể đưa đến Chân Lý. Thái Tử vất cái tô đất đã dùng để đựng sữa xuống sông và tự nhủ : « Nếu ta không tìm ra chánh pháp, thì tô đất này sẽ theo giòng sông trôi ra biển », nhưng tô đất đã trôi ngược giòng sông để hướng lên nguồn. (Con sông này, Ni Liên Thuyền, nay đã khô cạn, chỉ còn là một dải cát). Thái Tử liền từ bỏ nơi tu khổ hạnh và tìm đến một khu rừng già, có nhiều cây to bóng mát, và chọn ngồi dưới một gốc cây thuộc lọai cây sung, và bảo « Ta sẽ ngồi đây và quyết không rời nơi này cho đến khi ta tìm ra được Chân Lý. Nếu không ta sẽ chết ở nơi đây » Trong khi Thái Tử ngồi tham thiền ở dưới gốc cây sung, có một chú mục đồng gánh cỏ đem về cho trâu bò ăn, thấy Thái Tử ngồi trên đất đầy sỏi đá, đã dâng lên Thái Tử gánh cỏ của mình vừa mới cắt xong, để làm nệm cho Thái Tử ngồi. Nệm cỏ đó sau này hóa thành « kim-cang tọa ». Tại đây các chim, sóc, và các con thú trong rừng đã hái trái cây dâng lên cho Thái Tử. Sau 49 ngày Thái Tử ngồi tham thiền ở đây, Thái Tử đã "Giác Ngộ" và đắc đạo thành Phật, là Phật Thích Ca Mâu Ni. Cây sung sau đó được đặt tên là cây bồ đề (Bodhi = giác ngộ).
Đức Thế Tôn lúc đó 35 tuổi.
Ở chánh điện của Đạo Tràng có tượng Phật ngồi lớn. Khách thập phương đến đây đảnh lễ rất đông, suốt ngày không lúc nào ngơi. Có nhiều người đem từng xấp lụa vàng đến để dâng Phật, và vị sư trông nom ở nơi đây, mỗi khi có người đem lụa đến như vậy thì thay y cho Phật. Mỗi ngày như vậy họ thay y cho Phật không biết là bao nhiêu lần ! Tôi sực nhớ đến mẩu chuyện con con Thầy kể trong đó Nhũ Mẫu của Phật may y cho Phật nhưng Phật từ chối không nhận, nói rằng Phật đã có ba cái, đủ rồi, không cần thiết. Theo quy luật trong tăng đoàn do Phật đề ra, mỗi người chỉ được phép có ba y, và một bình bát.
Xem tiếp ở trang sau
Publié par chieuduongvien à 19:26:30 dans Pèlerinage en Inde | Commentaires (0) | Permaliens
Tôi đi hành hương đất Phật
(Tiếp theo)
.......
20/12/2010 : Trong thời gian chúng tôi ở tại Bodh Gaya, chúng tôi có đi thăm viếng rất nhiều chùa ở các vùng lân cận, chùa Cao-Miên, Tây Tạng, Thái, Nhật, Việt-Nam v.v.… Chùa Việt-Nam ở đây rất nhiều. Các chùa Việt-Nam ở bên đây đều rất to lớn, đồ sộ ! Có chùa có tầng cấp đi lên chánh điện gần đến trăm bậc, lót đá cẩm thạch, hai bên có hai con rồng lớn, chạy dài uy nghi, lẫm liệt. Trong chùa mọi nơi đều lót đá cẩm thạch. Chúng tôi đến nơi đây trời đã nhá nhem tối. Vườn của chùa rất rộng, nơi đây có tượng đá lớn hai con hạt trắng, nơi nọ có tượng con voi lớn, này kia có ghế đá để ngồi trầm tư, thưởng cảnh dưới bóng cây, nọ có chiếc cầu nhỏ bắc ngang qua con rạch, kia có khóm trúc bên hồ sen v. v. và v.v. chắc ban ngày phải là cực kỳ lông lẫy ! Chúng tôi có đi thăm một ngôi chùa. Chùa có môt trạm y-tê để săn sóc cho dân trong làng. Trên tường có các tranh vẻ : « Phải cắt móng tay cho sạch, phải rửa tay trước khi ăn, phải đáng răng súc miệng, phải tắm rửa thường xuyên, phải giặt quần áo thường xuyên, phải đào hố để đi tiêu, không nên khạc nhổ dưới đất, phải mang dép (giày) để tránh bị sỏi đá gây thương tich có thể gây nhiểm trùng v.v. ». Chỉ như thế cho ta biết ý niệm về vệ sinh của dân chúng nơi đây rất là thấp kém !!! Trạm y tế chỉ có lá cây, thảo dược ! Tại chùa Nhật có bức tượng Phật ngồi trên tòa sen, bằng đá trắng, người ta bảo là cao nhất thế giới, làm bằng những tảng đá đúc ghép lại. Dưới sân, chung quanh bệ của Phật có các bức tượng của 10 ngài đệ tử lớn. Ananda : A-nan, là người em họ của Đức Phật. Là Thị Giả của Phât. Từ hồi còn nhỏ, ngài A nan đã luôn luôn khâm phục người anh họ là Siddhartha này rồi. Ngài A-nan có một trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy, và đã viết lại tất cả các kinh, thường nhập đề với câu : “ Như thị ngã văn : ” (Tôi nghe như thế này…) Sariputa : Xá Lợi Phất, là người anh cả trong các đệ tử của Phật. Khả năng trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất là bậc nhất. Punna : Mạc Từ Tử, ngài có con mắt đầy lòng từ bi, rất giỏi về việc bốc thuốc trị bịnh. Ngài thuyết pháp rất hay. Mahakaccana : Ma Ha Ca Chiên Diên, có khả năng thuyết pháp và biện luận bậc nhất. Ngài được Đức Thế Tôn khen ngợi là người có khả năng giải đáp mọi câu hỏi. Rahula : La Hầu La, con của Phật. Sau khi Đức Thế Tôn đã có 1250 đệ tử rồi, Ngài mới trở về quê cha. Từ trên cửa sổ của lâu đài, Công Chúa Yasodhara, mẹ của La Hầu La bảo La Hầu La rằng: “Người đi đầu của đoàn người đang tiến vào sân vua là cha của con đó. Con hảy ra đón cha con và đòi gia tài của con đi ”. La Hầu La chạy ra và Đức Thế Tôn cho La Hầu La cạo đầu đi theo Đức Thế Tôn. La Hầu La là người đệ tử nhỏ nhất khi mới nhập vào tăng đoàn, 9 tuổi. Ngài La hầu La có “mật hạnh” bậc nhất. Subhuti: Tu bồ đề giải không đệ nhất (non-substantialité). Upali: Xuất thân từ hạng cùng đinh của xứ Ấn Độ, là thợ hớt tóc. Lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn ra lệnh mỗi gia đình hoàng tộc phải có một người quy y theo Đức Thế Tôn. Upali cạo tóc cho các vương tôn công tử mà cứ khóc hoài. Các Vương tôn công tử mới hỏi: “Vì sao ông cạo đầu cho chúng tôi mà lại khóc. Upali trả lời: “Vì tôi thuộc hạng cùng đinh trong xả hội, không làm sao có thể theo hầu Đức Thế Tôn cả.” Chuyện này đến tai Đức Phật, Đức Phật cho phép Upali thọ giới và đi theo chân Phật. Mahakassapa: Ma Ha Ca Diếp. Là người tu khổ hạnh đệ nhất, thường đi khất thực trong các xóm nghèo khổ hạng nhất. Có lần Ngài đi khất thực trong một xóm nghèo kia, có một bà già, hết sức nghèo khó, lại bị bịnh phong cùi. Ngài đến khất thực ở nhà bà ta. Bà ta nói, « Kính lạy ngài, tôi nghèo quá và không có gì để hiến dâng Ngài cả ». Ngài Ca Diếp, chỉ chén sữa đã lưng để ở trên bàn. Bà ta hết sức sợ, vì chén sữa này bà ta đã có uống rồi. Nhưng Ngài Ca Diếp vẫn cứ chỉ chén sữa, bà ta liền bưng chén sữa đến dâng Ngài Ca Diếp, nhưng một lóng tay của bà rụng, và rơi vào trong chén sữa. Ngài ca diếp liền uống chén sữa đó, tức thì bà ta chứng được quả phúc vô thượng, sinh lên cõi trời. Ngài Ma Ha Ca Diếp được Đức Thế Tôn nhường cho nửa toà ngồi và giao cho trọng trách giữ y, bát của Đức Thế Tôn để trao lại cho đức Phật tương lai. Mahamoggallana : Mục Kiền Liên, ngài có thần thông bậc nhất, đã từng lên cõi trời Hương Tích để kiếm thức ăn về dâng Đức Thế Tôn, vì lúc đó đang bị nạn đói khủng khiếp ở thế gian. Chúng ta cũng biết nhiều về ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ qua kinh Vu-Lan Bồn. Anuruddha : Xuất thân từ dòng họ Thích. Nhân thiên ứng cúng (oeil divin) đệ nhất.
Trong các đệ tử của đức Thế Tôn có hai người không được phép nhập Niết bàn : ngài Ma ha Ca Diếp và ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa. Ngài Ma Ha Ca Diếp phải ở lại thế gian để giữ y, bát của Đức Thế Tôn và trao lại cho đức Phật Tương lai. Ngài Tân Đầu Lô có thần thông rất cao ; có một người trong làng thường hay nghịch, dâng cổ cúng dàng hay để trong giỏ, và treo trên ngọn cây cao. Ngài Tân Đầu Lô lúc nào cũng dùng thần thông lên cây lấy xuống. Đức thế Tôn đã cấm không được dùng thần thông, vì sợ rằng dân chúng hiểu lầm mục đích tu học là để đạt được thần thông, vì thế khi đức Thế Tôn biết, liền đuổi ngài Tân Đầu Lô sang xứ trời khác. Một thời gian lâu sau, các đệ tử khác rất buồn và nhớ người bạn Tân Đầu Lô rất vui tánh này, mới xin đức Thế Tôn cho phép Ngài Tân Đầu Lô trở về. Đức Thế Tôn cho phép trở về, nhưng không cho phép nhập Niết bàn mà phải ở lại thế gian để chứng giám cho chúng sanh cúng dường.
Ở chùa Cao-Miên, có một bức tranh vẻ một người đàn bà đang có thai, đứng trước đại chúng chỉ mặt đức Thế Tôn. Thầy Thích Nguyên Hùng giảng, với giọng một người đàn bà : « Hắn đó, hắn là người cha của cái bào thai tôi đang mang đây »... nhưng sau đó bà ta vấp và ngã ra trước sân, trước đại chúng, cái bào thai chỉ là cái gối bà dấu ở trước bụng đã rớt ra ngoài ! Tất cả chúng tôi được một phen cười nứt bụng với cách kể hài hước của Thầy.
21/12/2010 : Thăm núi Kê Túc, viếng hang nơi Ngài Ma Ha Ca Diếp ẩn thân để chờ Phật Di-Lặc ra đời. Tôi không đi được, vì đường lên núi rất cheo leo, và hôm đó tôi quá sức bịnh.
Tôi hết sức tiếc đã không đi được.
Chiều đi viếng làng của cô thôn nữ Sujata và nền đất nhà cũ của chú mục đồng đã dâng cỏ Kusa cho Phật.
22/12/2010 : Đi thăm Khổ Hạnh Lâm. Nơi đây Đức Phật đã tu sáu năm khổ hạnh. Đường lên núi rất cao, nhưng có lót gạch dễ đi, có thể mua gậy để chống. Người già yếu có thể thuê cáng. Khách hành hương rất đông, không phải chỉ có mỗi nhóm của chúng tôi mà thôi.
Tôi đã cố gắng đi lên bộ, nhưng phải nghỉ chân nhiều nơi để lấy lại sức. Các bạn trẻ trong nhóm có người đi lên núi « tam bộ nhất bái » (ba bước thì sup lạy một lạy). Ở bên đường lên núi có rất nhiều khỉ. Tôi thấy nhiều khách hành hương đã mua bánh bích quy, bán bên lề đường, để vất cho khỉ ăn. Trong khi đó người ăn xin ngồi hai bên đường rất đông họ không thèm để ý đến. Tôi hết sức khó chịu …!!! Đặc biệt ở tại đây, các người ăn xin ngồi rãi rác và không bu xúm lại mỗi khi có người cho tiền hay vật thực.
23/12/2010 : Đi thăm và tặng quà các em học sinh ở trường học do Ni sư Từ-Tâm làm hiệu trưởng (tập vở, bút v.v.… và kẹo).
24/12/2010 : Ngày vía Đức Phật A Di Đà.
Đức Phật A di Đà đã thành tựu được 48 đại nguyện để cứu độ chúng sinh. … « Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh… » như trong kinh chúng ta vẫn đọc (như con két !) trong đó, đại nguyện thứ 18 là pháp môn niệm Phật. Bất luận ở hoàn cảnh nào, trình độ học vấn nào, bất luận giàu sang hay ngèo khó thế nào, cũng đều có thể niệm « Nam mô A Di Đà Phật ». Chỉ cần chí thành niệm 10 câu là có thể vãng sanh Tịnh Độ. Nghe danh hiệu Phật thì phát bồ đề tâm. Tuy nhiên không phải ai cũng làm được !
Đi thăm núi Linh Thứu, nơi Phật giảng kinh đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa và nhiều kinh khác.
Thăm phế tích ngục tù của vua Tần-Bà-Sa-La (Vua bị con là A-Xạ-Thế dành ngôi, và giam vua trong ngục tối) ; và phế tích lãnh cung hoàng hậu Vi-Đề-Ni, vợ của vua Tần-Bà-Sa-La, nơi đây bà đã thỉnh cầu đức Phật cho bà pháp môn tu học để đến cảnh giới an lành, thoát khỏi cảnh khổ đau của kiếp người. Nhân đó Phật giảng kinh Pháp Vô Lượng Thọ. Bà Vi-Đề-Ni đã quán thấy hiện tiền cảnh giới tịnh độ A-Di-Đà.
Tối : Lễ quy y của 5 bạn trong nhóm hành hương, tại Bồ Đề Đạo Tràng. Đêm nay là đêm cuối cùng ở tại đây, ngày mai sẽ lên đường vĩnh viễn rời đây. Bổng nhiên tôi cảm thấy nhói lên một niềm nuối tiếc !
25/12/2010 : Sáng sớm, rời Chùa Viên Giác.
Trên đường đi Népal, chúng tôi ghé thăm chùa Kiều Đàm Di, do một ni sư Việt-Nam trụ trì, và nhiều thánh tích khác.
Nalanda. Bây giờ chỉ còn là một phế tích, với các nền gạch, trên một khu đất rộng mênh mông. Đây là trường đại học đầu tiên trong lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ, xây cất từ thế kỷ thứ 5 Tây lịch, và là trường đại học có nội trú đầu tiên của toàn thế giới. Lúc cực thịnh trường có đến 10,000 sinh viên. Ngài Huyền Trang (mà chúng ta rất quen biết trong truyện Tây Du Ký) đã tu học ở đây, thỉnh kinh về Trung Quốc, và sau đó dịch sang tiếng hán. Ở tại đây, theo trong kinh, đức Phật thường ở tại « vườn xoài ».
Trong khuông viên trường có rất nhiều khỉ. Có người nói « Coi chừng khỉ ! Chúng giật xách của khách hành hương, nghĩ rằng trong đó có thức ăn, vì khách hành hương hay cho chúng nó ăn ». Khỉ ở đây rất bạo dạn. (Tôi bất giác cười thầm, nếu mà bi khỉ nó giật xách tay thì làm sao mà rược bắt được chúng, chúng nhảy từ cây này sang cây khác từ trong tường rào ra cây ngoài đường !) Câu chuyện này làm tôi sực nghĩ, tôi không thấy trẻ em móc túi hay cướp giật ngoài đường trong mấy ngày qua. Một điểm đáng khen. Ngoài ra còn một điểm nữa tôi để ý, người Ấn Độ sống hiền hòa với nhau, nhà này kế liền nhà khác, không có hàng rào phân chia nhà này nhà khác… không có ý niệm « đây là của tôi » … v.v.
Thăm Vaisali.
Thăm di tích giảng đường Trùng Các, nơi có ao Di hầu do bầy khỉ đào cho đức Phật tắm, và trụ đá do vua A-Dục trồng vẫn còn nguyên vẹn.
Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, Bà Maha Gautami, nhũ mẫu của đức Phật, cùng với 500 tỳ nữ đến xin xuất gia theo chân đức Thế Tôn. Bà Gautami cùng các tỳ nữ đi bộ từ thành Ca Tỳ La Vệ đến Vaisali, chân của các bà rách nát, máu nhuộm đỏ đất. Nhưng có nhiều nguyên nhân làm cho Đức Phật không muốn nhận đệ tử người nữ. Tuy nhiên khi tôn giả A-nan hỏi : « Người nữ có khả năng thành Phật không ? » thì đức Thế Tôn trả lời là có, và sau đó Bà Gautami cùng đoàn tỳ nữ được xuất gia theo chân Phật.
26/12/2010 : Viếng thăm vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) ở Népal. Đây là nơi Phật đản sanh.
Cách nay hơn 2500 năm, Hoàng Hậu Maha Maya của xứ Ca Tỳ La Vệ nằm mơ một giấc mơ thật kỳ lạ. Một con voi trắng sáu ngà và rực sáng đi đến và tan biến vào cơ thể của bà. Hoàng hậu tỉnh dậy và cảm thấy trong cơ thể một niềm khoái lạc, yên vui không bờ bến, như chưa bao giờ bà cảm được như thế. Các hiền nhân được tham khảo cho biết rằng Hoàng hậu sẽ sinh một vĩ nhân. Khi sắp đến ngày sinh, theo tục lệ thời bấy giờ, bà trở về quê mẹ, đi cùng với một đoàn tỳ nữ. Trên đường đi bà ghé lại một vườn hoa đẹp Lâm Tỳ Ni (Lumbini) để thưởng ngoạn. Và tại đây, níu vào một cành cây, hoàng hậu đã sinh Thái Tử Siddharta. Năm đó là năm 623 trước tây lịch.
27/12/2010 : Thăm phế tích thành Ca Tỳ La Vệ ở sát biên giới Népal. Nơi Thái Tử Siddharta sống suốt cuộc đời niên thiếu cho đến năm 29 tuổi.
Năm Thái Tử 29 tuổi vua cha nghĩ rằng đã đến lúc nên nhường ngôi lại cho con. Thái Tử xin phép vua cho đi ra ngoài xem tình hình dân chúng. Vua cha cho phép vì nghĩ rằng con mình phải biết dân chúng để cai trị. Trong chuyến đi này, Thái tử đã nhìn thấy các khổ đau của cuộc đời, cảnh người già, người bệnh, người chết bị thiêu trên giàn hỏa …những khổ đau mà không ai tránh khỏi được. Thái Tử quyết định rời bỏ cung điện để đi tìm Chân Lý : do đâu có sự khổ, làm sao diệt được khổ.
Sau khi Đức Phật đã có 1250 đệ tử rồi, Đức Phật mới trở về thăm quê cha ở Ca Tỳ La Vệ này.
Thăm Tịnh Xá Kỳ viên ở Sravasti.
Còn có tên là vườn Cấp Cô Độc : Khu vườn này do trưởng giả Cấp Cô Độc dâng cúng cho đức Thế Tôn. Ông ta đi tìm kiếm khắp nơi, chỉ thấy nơi này là đẹp và thích hợp hơn cả nên đã năng nỉ Thái tử Kỳ-Đà, con vua Ba-Tư-Nặc của thành Xá Vệ bán lại cho ông khu vườn này. Thái-Tử nói : « Ông không mua được đâu, chừng nào ông trải được vàng đầy khu vườn tôi mới bán. » Nhưng Cấp Cô Độc đã đem xe ngựa, xe voi, chở đầy vàng đến. Đa số kinh điển đều được đức Phật giảng tại đây như trong bản kinh A Di Đà, ta vẫn thường đọc : « Như thị ngã văn : Nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên … »
Đức Thế Tôn an cư tại đây 24 mùa.
Tại vườn Cấp Cô Dộc này chúng ta thấy có một mô gạch xây cao, đó là vị trí mà vua các nước lớn đã đắp xây lên để đón Phật trở về sau khi Phật lên viếng các cỏi trời khác.
Xem tiếp ở trang sau
Publié par chieuduongvien à 19:14:14 dans Pèlerinage en Inde | Commentaires (0) | Permaliens
Tôi đi hành hương đất Phật
(Tiếp theo)
.....
28/12/2010 : đi Kushinagar, nơi đức Phật nhập Niết bàn, ở rừng sala. Ổ đây chúng tôi được đảnh lễ tượng đức Phật nằm. Khách thập phương đến đây chiêm bái rất đông, có người đang dán vàng lá (feuilles d’or) vào gót chân Phật. Thượng Tọa giảng : Ý nghĩa của Niết Bàn là nơi con người không còn bị xáo động nữa, không còn bị hủy diệt nữa. Bốn đức tính của Niết Bàn là: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Thường : là bất biến. Lạc : Đời là khổ đau. Tu không phải để cảm thọ khổ đau mà để cảm thọ lạc. Ngã : Tu tập để đạt đến vô ngã, nhưng kết qủa cuối cùng của tu học lại vẫn là Ngã. Phải diệt cái ngã để đi đến Chân Ngã. Tịnh : Niềm vui ở đời không thật vì chỉ có giá trị tạm bợ trong một đời thôi. Tu học là để đạt đến niềm vui tuyệt đối. Thế giới ta đang sống bị ô nhiễm bởi những phiền não trong tâm. Bằng cái tâm ô trược thì không làm sao nhìn thấy được sự thanh tịnh của đất Phật. Phải gột rửa tất cả các phiền não này thì đạt được Tịnh. Cây sala kiên cố, có sức chịu đựng dẽo dai qua 4 mùa, qua ngàn năm, vì thế còn có tên là Kiên Cố lâm. Đức Thế Tôn chọn nơi đây để nhập Niết Bàn. Khi Phật đến khu rừng sala này, thì lá các cây sala chuyển màu sang màu xám. Không hiểu vì sao ? Ổ đây người thợ rèn tên Thuần Đà (Cunda) dâng Phật tô cháo nấm. Phật biết là nấm độc, cực độc. Các đệ tứ của Phật hết sức lo cho Thuần Đà. Trong cuộc đời thọ nhận cúng dường của đức Phật, có hai lần là quan trọng nhất : trước khi Phật thành đạo (nàng Sujata cúng dường sữa) và khi Phật nhập Niết Bàn (Thuần Đà). Sau khi Phật nhận tô cháo cúng dường do Thuần Đà dâng, Thuần Đà liền chứng được quả « bất thoái ». Thuần Đà cúng dường Đức Như Lai với ý chí duy nhất được Phật thâu nhận vào hàng thánh chúng. Đức Phật nhập Niết Bàn trong khi nằm thiền định, nằm bên phía tay mặt, đầu hướng về Bắc, mặt hướng về Tây, miệng mĩm cười. Lúc đó đức Phật 80 tuổi.
Trong suốt 45 năm cuối đời của đức Phật, Ngài đã đi chu du khắp vùng sông Hằng và các phụ lưu của sông Hằng để giảng Pháp. Lời giảng dạy của Ngài lúc nào cũng phù hợp với trí tuệ hiểu biết của dân chúng.
Tháp Trà Tỳ : nơi hỏa táng đức Phật. Công việc trà tỳ Phật đã căn dặn trước là để cho các cư sĩ tại gia lo, đó là các cư sĩ của bộ tộc Mạt La. Nhưng đến khi châm lửa thì không sao châm lửa được, nên phải chờ ngài Ma Ha Ca Diếp. Ma Ha Ca Diếp đã tức tốc trở về, và lúc đó chân của đức Thế Tôn đã tự nhiên thò ra ngoài áo quan để cho ngài Ma Ha Ca Diếp đảnh lễ (Kinh Đại Bát Niết Bàn Nam truyền và Bắc truyền, Kinh Trường A hàm).
Nghỉ đêm tại Patna
30/12/2010 : Sáng sớm rời Patna, trên đường về New Delhi, viếng đền Taj Mahal bên sông Yamuna ở Agra. Đền này được xếp hàng thế giới kỳ quan thứ 7. Đây là nhà mồ do vua Shah Jahan, của xứ Mughal, xây cho vợ là hoàng hậu Mumtaz Mahal, vào thế kỷ thứ 17. Công trình xây cất mất 22 năm mới xong, toàn bằng đá cẩm thạch trắng. Hoàng hậu Mahal đã trút hơi thở cuối cùng sau khi sinh hạ đứa con thứ 14. Vua Shah Jahan quá thương vợ nên muốn xây một nhà mồ cho vợ mà muôn đời ai ai cũng phải nhắc đến, để bất tử hóa mối tình của ông ta dành cho vợ.
“Shopping”. Rời Agra đi New Delhi, nghỉ đêm tại New Delhi, ở khách sạn Country Inn
31/12/2010: Sáng, viếng viện Bảo Tàng quốc gia Ấn Độ ở New Delhi, đảnh lễ Xá Lợi của Phật được chưng bày ở đây. Xá Lợi này được tìm thấy do một nhà khảo cổ người Pháp vào năm 1918 tại Uttar Pradesh. Sau khi hỏa thiêu, tro của Phật đã được chia ra cho 8 nước trong 16 nước của thời đó, và một trong 8 nước này là Ca Tỳ La Vệ. Đây là Xá Lợi thuộc thành Ca Tỳ La Vệ. Xá Lợi khi được tìm thấy (khai quật) được đựng trong bình đá, có ba ngăn, có khắc những dòng chữ như trong kinh đã nói trong thời của vua A Dục. Xá Lợi của Phật được chưng bày ở đây trong một ngôi tháp nhỏ bằng vàng khối do vua Thái tặng cho Viện Bảo tàng.
“Shopping”.
Tối 31/12/2010: Rời khách sạn. Các nhóm từ Việt-Nam và Úc Châu, thì đi trước chúng tôi vài tiếng đồng hồ lúc 7 giờ tối. Còn chúng tôi, các nhóm đến từ Âu Châu đều cùng lấy máy bay về Amsterdam, để rồi từ đó ai về nhà nấy !
Chúng tôi chia tay nhau trong phi trường Amsterdam, trong một bầu không khí đầy quyến luyến sau hơn 15 ngày sống bên nhau. Mọi người trao đổi cho nhau nào số điện thọai, nào địa chỉ bưu điện, nào địa chỉ e-mail để còn mong giử được mối liên lạc với nhau.
Có một điều làm cho tôi cảm thấy hết sức xót xa trong lòng trong chuyến đi hành hương này. Bên cạnh những cảnh lầm than, nghèo đói của dân chúng nơi đây, cũng như ở Việt-Nam ta mỗi lần tôi nghĩ đến, tại sao các chùa Việt-Nam ở đây lại xây cất, lộng lẫy, xa hoa đến như thế ! Tôi tự hỏi “Đức Phật nghĩ như thế nào ?” Với bao nhiêu tiền của hoang phí xa xỉ đó, có thể làm được những công cuộc từ thiện quy mô, và có quy hoạch về lâu về dài. Đáng buồn thay !
Tôi về đến nhà (Périgueux, Pháp) lúc 3 giờ chiều ngày thứ bảy 01/01/2011. Sau khi thắp nhan trên bàn Phật để cảm tạ chư Phật đã cho phép tôi đi hành hương bình an vô sự, tôi liền mở máy ordinateur để “trình diện” với bà bác sỉ bạn của tôi, cho bà ta biết rằng tôi đã đi về binh yên. Bà ta trả lời ngay “Rất mừng được biết bạn đi về bình an. Phải có một đức tin mãnh liệt mới có thể đi như vậy, tôi hết sức khâm phục bạn.” Bổng nhiên tôi cảm thấy nhói trong tim. Có thật là tôi có một đức tin “mãnh liệt” không? Không, đây chỉ là một sự cẩu thả, thiếu suy nghỉ của riêng tôi mà thôi !!!
“Lạy Phật, con xin chí thành sám hối ! ” Tôi tha thiêt cầu nguyện thầm trong tâm tôi.
Trong suốt cả tuần liền, một âm điệu của một bài hát rất đơn sơ và rất dễ thương, cứ lãng vãng trong đầu tôi:
“Ai nói gì thì ta cứ nghe… Ta ngồi ta thở thật sâu, Đau buồn chuyển hóa thật mau… Tang tình tang tính tình tang …”
Đó là bài hát mà quý Thầy hay xướng lên và chúng tôi đã hát theo, trên các đoạn đường dài trên xe buýt.
Trên đây tôi đã ghi lại hết sức trung thực những gì tôi đã ghi nhận được và những cảm nghĩ của riêng tôi.
Tôi xin thân mến gởi đến các bạn đã cùng đi hành hương trong chuyến này với tôi, và xin cầu chúc các bạn cùng gia đình được thân tâm an lạc, với mỗi ngày một niềm vui trong năm Tân Mão sắp tới và tôi mong có ngày chúng ta sẽ còn được gặp lại nhau.
“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ ” mà, phải không các bạn ?
Kitty
Périgueux, 28/01/2011
Publié par chieuduongvien à 19:09:40 dans Pèlerinage en Inde | Commentaires (1) | Permaliens
Depuis le 17-09-2008 :
77003 visiteurs
Depuis le début du mois :
557 visiteurs
Billets :
80 billets
Commentaires