•  

     

    Nhật ký hành hương đất Phật

    ...

    15/12 2010 – 01/01/2011

     

     

    Tôi quyết định đi theo đoàn hành hương do chùa Vạn Hạnh ỏ Nantes tổ chức từ cuối tháng 8, 2010. Làm các thủ tục vé máy bay, passport và visas xong xuôi từ cuối tháng mười. (Các bạn nên nhớ rằng passport của bạn phải còn có giá trị tối thiểu 3 tháng sau ngày rời Ấn Độ trở về.  Nếu bạn rời Ấn Độ ngày 01/01/2011, thì passport của bạn phải còn giá trị tối thiểu là đến 01/04/2011. Visas vào ra Ấn Độ, phải là « Double entries ») Xong xuôi tất cả, tôi phủi tay tự nhủ, bây giờ thì chỉ còn chờ ngày đi mà thôi, và tôi vui thú thở ra nhẹ nhỏm trong người.

     

    Không ngờ 2 tuần lễ trước ngày đi, tôi bỗng nhiên phát bệnh đủ thứ, mà không phải là bệnh tầm thường.  Hủy bỏ chuyến đi hành hương chăng ? Không, không thể được ! Tôi đã hứa với một bà bạn sẽ cùng đi hành hương với bà ta, vã lại, cũng đã hứa với Thầy trên chùa Vạn Hạnh rồi, không thể nay nói đi, mai nói bỏ, lôi thôi như vậy. Tôi quyết dịnh đi sau khi hỏi ý kiến các bác sĩ của tôi. Họ đã cho phép tôi đi với đủ điều căn dặn cặn kẽ !!!

     

    15/12/2010 : Ngày ra đi đã đến (quá nhanh đối với tôi lúc đó !). Người em họ của bà bạn tôi đưa chúng tôi đến phi trường Bordeaux lúc 3 giờ sáng. Chúng tôi bay từ Bordeaux sang Amsterdam. Ở đây chúng tôi gặp được nhóm của Chùa Vạn Hạnh từ Nantes ở Pháp sang, một nhóm Phật tử khác từ Đan Mạch (Danemark), và một bà Phật tử đơn độc từ bên Đức đến. Chúng tôi cùng lấy máy bay đi New Delhi, và đến New Delhi lúc 1 giờ sáng ngày 16/12/2010.  Ở đây chúng tôi gặp thêm hai nhóm nữa đang chờ chúng tôi tại phi trường, một từ Việt-Nam sang, và một từ Úc Châu sang. Một sư cô người Việt, Sư cô Tuệ Đàm Hương, đã từng du học ở Ấn Độ, từng làm Phật sự xây dựng chùa Viên Giác ở Ấn Độ, và hiện đang ở tại đây, đón chúng tôi đưa về khách sạn ở New Delhi, để tạm nghỉ đêm tại đó.

     

    Trong nhóm đệ tử của chùa Nantes, có 4 bà người Pháp, và có một bà đệ tử cũng của chùa Nantes sành các danh từ Phật học, làm thông dịch viên cho mấy bà Pháp này.

     

    16/12/2010 : Chúng tôi lấy máy bay di Varanasi. Ngoại trừ quảng đường này là chúng tôi đi bằng máy bay, sau này tất cả các di chuyển khác dều được thực hiện bằng xe ca.

     

    Cuộc hành hương của chúng tôi kể từ ngày này trở đi, mọi chuyện đều do Sư Cô Tuệ Đàm Hương sắp xếp, tổ chức, lo về khách sạn, nơi ăn uống, và xe ca cho toàn cả đoàn. Ba mươi lăm người tất cả, gồm có Thượng Tọa Thích Thiện Huệ từ Việt-Nam sang, Thượng Tọa Thích Nguyên Lộc, Trụ trì của chùa Vạn Hạnh ở Nantes, Thượng tọa Thích Nguyên Hùng, Sư Cô Tâm-Nghĩa ở chùa Nantes, Sư Cô Tuệ Đàm Hương, và tất cả chúng tôi, người thế gian trần tục, từ bốn phương trời góp mặt. Tôi là người lớn tuổi nhất trong nhóm nên được nhường cho ưu tiên. Trên xe ca được ngồi phía trước ít xóc, vì đường rất xấu, xóc kinh khủng !

     

    Sư Cô Tuệ Đàm Hương tổ chức hết sức chu đáo, vì đã có nhiều kinh nghiệm. Chúng tôi được phát mỗi người một chiếc nón vải giống nhau để dễ nhìn ra nhau, khỏi bị  lạc. Trên xe ca, thì chúng tôi được yêu cầu ai ngồi ở đâu, thì luôn luôn ngồi ở đó trong suốt cuộc hành hương, và phải để ý người bên cạnh của mình, có mặt hay còn thiếu ở trên xe, mỗi khi lên xe để rời đi nơi khác.

     

    Trên xe ca của chúng tôi có một ông hướng dẫn viên, một tài xế và một lơ xe người Ấn. Ông hướng dẫn viên này cũng hiểu biết khá nhiều về lịch sử các thánh tích. Mỗi lần lên xe để đi nơi khác ông ta "đếm" đầu chúng tôi một cách hết sức có trách nhiệm ! Những người này họ làm việc cho chúng tôi gần như mỗi ngày 14-16 tiếng đồng hồ !

     

    Lịch trình viếng thăm các thánh tích được sắp xếp theo sự thuận tiện của con đường đi, chứ không dựa theo thứ tự các sự việc đã xảy ra trong lịch sử. Bốn nơi chính yếu, gọi là tứ động tâm, của cuộc hành hương là : Nơi Đức Phật Thích Ca sinh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật chuyển Pháp luân (giảng Pháp lần đầu tiên), và nơi Phật nhập niết bàn.

     

     

    Tại mỗi thánh tích, Thầy Thích Nguyên Hùng giảng cho chúng tôi nghe những gì đã xảy ra ở đó theo trong kinh, và những mẫu chuyện con con, vui cuời... Sau đây tôi xin ghi lại những gì tôi đã nghe và ghi chép lại được giữa những cơn ho rũ rượi của tôi. Vì bên đó, mùa này trời cũng lạnh lắm. Sau 2 ngày ai cũng đổ xuống bịnh hết, không sót một ai !!! (Vì ai cũng tưởng rằng bên đó trời nắng ấm nên không đem theo đủ áo lạnh !)

     

    Ở Varanasi chúng tôi nghỉ hai đêm 16 và 17/12/2010 tại khách sạn. Chúng tôi di thăm viếng Đạo Tràng Chuyển Pháp Luân, Viện Bảo Tàng và Vườn Lộc Uyển.

     

    17/12/2010 : Tại Vườn Lộc Uyển (vườn nai) này, đức Thế Tôn, đã giảng Pháp lần đầu tiên, và là giảng cho năm anh em Kiều Trần Như. Năm người này trước đây là bạn cùng tu khổ hạnh với Đức Thế Tôn, họ đã hết sức khâm phục Đức Thế Tôn ở ý chí tu khổ hạnh của Ngài. Ở đây bản kinh Chuyển Pháp Luân giảng về "Tứ Diệu Đế" được dịch ra nhiều thứ tiếng, và khắc trên bảng đá. Tôi đã vô cùng xúc động thấy có bản dịch tiếng Việt góp mặt ở đây.

     

    Chúng tôi viếng thăm Đạo-Tràng, xưa hơn 2000 năm, nay chỉ còn là một phế tích, với ngọn tháp Dhamek cao hơn 30 thước uy nghi, dũng liệt, và vườn Lộc Uyển. Có các trẻ em bán thức ăn (trái cây dại) cho nai ăn. Và khách hành hương được vui thú cho nai ăn, vuốt ve đầu các con nai có đôi mắt hiền lành. Bổng nhiên tôi nghe đau nhói trong tim, đôi mắt của chúng sao mà có một nét buồn vô bờ bến ! (Tôi nhìn lại, vườn nai có hàng rào sắt kiên cố ! ) .

     

    Tối ăn cơm xong chúng tôi được nghe Thầy Thích Nguyên Hùng giảng :

     

    Vì sao Đức Phật chọn mảnh đất này để thị hiện ?

     

    * Xã hội Ấn Độ là một xã hội bất bình đẳng nhất qua sự phân chia nhiều giai cấp. (Có bốn giai cấp chính gọi là "castes", có thứ tự quan trọng khác nhau, cha truyền con nối và một giai cấp thứ 5, ngoại hạng "hors-caste", những người thuộc giai cấp này gọi là "intouchables", không chung đụng được.  Giai cấp này bị khinh miệt nhất trong xã hội Ấn). Đức Phật là nhà cách mạng giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người, tôn trọng quyền bình đẳng. Ngài nói : « Không có giai cấp khi ai ai cũng có nước mắt cùng mặn, có máu cùng đỏ ».

    * Ấn độ là xứ có nhiều tôn giáo nhất, hơn 90 tôn giáo khác nhau, nhưng không một tôn giáo nào giải quyết được vấn đề căn bản của kiếp người, đó là làm sao chấm dứt khổ đau : sinh, lão bệnh, tử. Đức Phật ra đời để chỉ giáo cho chúng sinh vấn đề này.

    * Đất nước này có nền văn minh xưa nhất của nhân loại: Đạo Phật là tinh hoa tuyệt đỉnh của nền văn minh nhân loại, là thông điệp từ bi và trí tuệ, là con đường đi đến hạnh phúc tối thượng.

    * Vì đây là một xứ dân nghèo, lầm than, đầy khổ đau. Chỉ có những người có tâm lượng như chư Phật và Bồ Tát mới có thể dang tay ra để cứu vớt.

     

    18/12/2010 : Chúng tôi đi viếng thăm sông Hằng (Gange).

    Trên đường đi thăm sông Hằng, chúng tôi bị kẹt xe vì gặp các cuộc rước lễ của các giáo dân thuộc Bà La Môn giáo, đông nghẹt cả đường.

     

    Sông Hằng đối với người Ấn Độ không những rất là quan trọng về mặt địa lý, mà còn mang một tính chất linh thiêng, tôn giáo nữa. Sông Hằng, dài 3090km, xuất phát từ dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, (chóp đĩnh cao của toàn qủa địa cầu), chảy băng qua Kanpur, Bénarès, và Patna, để ra biển trong vịnh Bengal. Người Ấn Độ, (Ấn Độ giáo, Hồi Giáo và Bà La Môn giáo v.v.…) tin tưởng rằng nước sông Hằng có thể gột sạch các tội lỗi của con người, và đưa linh hồn con người lên thẳng thiên đường. Ngoài ra ở Ấn Độ còn có đạo thờ nước. Nhưng trong kinh Phật, thì ta chỉ thấy « Hằng-hà sa » được nhắc đến để ám chỉ một số nhiều không thể lường ước được như cát của sông Hằng. Người Ấn Độ cũng tin tưởng rằng lửa có thể làm tiêu tan các tội lỗi của con người, nên phong tục ở đây từ xa xưa đến nay, người chết được thiêu, xong đổ tro xuống sông Hằng.  Tỷ số người Ấn Độ theo Phật giáo ở trong nước không quá 10%.

     

    Ở đây chúng tôi thuê thuyền ra xa xa ngoài giòng sông để thả các đĩa hoa nhỏ trong đó có một ngọn nến, với ý nghĩa soi sáng, dẫn đường cho các vong hồn ở nơi đây, cùng với lời tụng kinh và cầu nguyện của chúng tôi. 

     

    Dọc bờ sông, dân trong vùng tắm và giặt rửa, phơi từng tấm sari dài trên các bậc cấp, vì thế dọc bờ sông Hằng màu sắc rất là rực rỡ. Cũng dọc bờ sông, lác đác có vài bệ xi măng để thiêu, và các vựa chứa củi. Tục lệ người Ấn Độ từ xa xưa tới nay là chết thì thiêu. Người giàu mua được nhiều củi thì thiêu dược trọn vẹn chỉ còn tro. Người nghèo chỉ mua được dăm ba cây củi, xác đôi khi vẫn còn nguyên, và cứ y như thế được thả xuống sông !

     

    Chỉ sau vài vòng trên xe ca, chúng tôi nhận thức nhìn thấy dân Ấn Dộ tại các vùng này rất nghèo khổ, nhìn các túp lều rách nát hai bên đường ...  Người ăn xin rất nhiều. đàn ông, đàn bà, trẻ con, người tàn tật …, nhất là ở các nơi thánh tích có nhiều du khách hành hương, có cả hàng trăm người ăn xin !

     

    Đường Ấn Độ đầy cả bụi. Lá cây bên đường đều bị phủ một lớp bụi dày, dày đến nỗi mà mưa không rửa sạch được ! Bò đi lang thang, đủng đỉnh ngoài đường. Xe cộ phải tránh chúng. Phân bò được người Ấn Độ (dùng tay) ép lại thành bánh, phơi trên các bải cỏ bên vệ đường, hay dán vào tường rào để phơi, khi khô họ dùng để đun bếp.

     

    Rau cải thấy bày bán ở các chợ có đủ các loại rau như ở Việt-Nam ta, rau rất xanh tươi, chắc chắn là rất ‘BIO’, được trồng bằng phân heo, phân bò và có lẽ cả với phân người nữa !!! Chúng tôi được khuyên chỉ nên dùng nước trong chai để uống, không nên uống nước từ vòi nước, cho dầu chỉ để đánh răng súc miệng. Tôi tự hỏi « rau sống ăn ở chùa có được rửa bằng nước trong chai không ? » Đêm đầu tiên đến chùa Viên Giác, tất cả chúng tôi vì đi đường xa đói quá, đều đổ vồ xuống ăn bát bún riêu của chùa, thật là ngon, ‘ngon kinh khủng’, sau mấy ngày ăn các món đồ chay cà ri Ấn Độ tại các khách sạn, chán ơi là chán, không hợp khẩu vị chút nào.  Hôm ấy được tô bún riêu, với rau sống tươi xanh, trông thật sạch sẽ, thật hấp dẫn. Ngày hôm sau tất cả chúng tôi đều đau bụng ! Tôi nghĩ thầm « cần phải rửa rau bằng thuốc tím (permanganate de potassium) ! ».

     

    Chiều, chúng tôi rời Vanarasi để đi Bodh Gaya bằng xe ca. Tại Bodh Gaya chúng tôi ngụ tại chùa Viên Giác, cách Bồ Đề Đạo Tràng chưa đầy 10 phút đi bộ. Chúng tôi đến đây vào khoảng 7 giờ, trời đã tối. Tại đây chúng tôi ở lại lâu nhất trong cuộc đi hành hương. Chùa có nhiều phòng cho khách thập phương, khá tiện nghi, có phòng ăn lớn, và có chánh điện rộng để tối tối chúng tôi lên đọc kinh và nghe Thầy giảng Pháp.

     

    19/12/2010 : Bồ Đề Đạo Tràng ở Bodh Gaya.

     

    Mỗi ngày, 5giờ sáng chúng tôi ra đi, đến Bồ Đề Đạo Tràng đọc kinh bên gốc cây bồ đề nơi Phật thành đạo. Có tường đá xây cao rào quanh gốc cây bô đề. Chúng tôi mỗi người đều có được phát cho một cây đèn « pin » bấm.

     

    Thật ra cây bồ đề nguyên thủy nơi Phật ngồi thiền định, qua bao nhiêu cuộc nội chiến tôn giáo, người ngoại đạo thấy dân đến sùng bái bên gốc cây bồ đề nên đã nhiều lần chặt phá gốc bồ đề này. Nhưng sau mỗi lần đều được trồng lại từ một nhánh của gốc bồ đề ở Tích Lan (Sri Lanka). Theo các nhà khảo cổ, cây bồ đề hiện tại được trồng lại cách nay khoảng 150 năm. Cạnh gốc bồ đề, có một tháp được xây lên cao trên 60m, vào khoảng thế kỷ thứ III trước tây lịch do vua A Dục Ashoka xây. Vì thế gốc bồ đề này bị tháp che ánh nắng nên mọc nghiêng ra ngoài.

    Tháp này qua bao nhiêu thế kỷ đã được tu sửa lại nhiều lần. Mặt đáy của tháp là một hình vuông trên 35m mỗi cạnh. Đó là trung tâm của đạo tràng. Đạo tràng nằm trong một thung lũng, ở ngoài bước vào đạo tràng phải đi xuống rất nhiều dãy cấp. Chung quanh tháp có lối đi rộng lát đá cẩm thạch (marbre). Người sùng đạo và khách hành hương từ tứ phương trời đến đây lễ bái và đi kinh hành rất đông, vì thế chúng tôi mỗi ngày ra đây từ lúc 5g sáng để có thể kiếm được một chỗ ngồi cho toàn cả đoàn 35 người. Có rất nhiều đoàn hành hương khác, Thái, Nhật, Trung Hoa, Tây-Tạng … và cả Việt-Nam nữa.

    Chúng tôi đến đây nhằm lúc có ngài Karmapa-Lama đến viếng đạo tràng. Ngài Karmapa-Lama này là hóa thân lần thứ 17 của một vị Karmapa-Lama trong thời xa xưa, vì thế đạo tràng rất đông. Các sư Tây-Tạng áo đỏ và áo vàng đến đây đông nghẹt cả các tầng sân cỏ chung quanh đạo tràng. Ở đây lúc nào cũng có treo đèn kết hoa (hay là vì đặc biệt có ngài Karmapa-Lama đến thăm ?), và là hoa thật, (tôi đã có sờ thử) phần nhiều là hoa vạn thọ vàng xâu thành chuổi. Các tượng Phật trong chánh điện cũng như các tượng nhỏ ở ngoài, cả hàng trăm tượng trên thành tháp, đều có vòng hoa choàng qua cổ. Nơi nơi đều có thấy vàng lá (feuilles d’or) dán lên bất cứ nơi nào tay người vói thấu.

    Ở chánh điện của Đạo Tràng có tượng Phật ngồi lớn. Khách thập phương đến đây đảnh lễ rất đông, suốt ngày không lúc nào ngơi. Có nhiều người đem từng xấp lụa vàng đến dâng Phật, và vị sư trông nom ở nơi đây, mỗi khi có người đem lụa đến như vậy thì thay y cho Phật. Mỗi ngày như vậy họ thay y cho Phật không biết là bao nhiêu lần ! Tôi sực nhớ đến mẩu chuyện con con Thầy kể trong đó nhũ mẫu của Phật may y cho Phật, bằng gấm vàng, nhưng Phật từ chối không nhận, nói rằng Phật đã có ba cái, đủ rồi, không cần thiết. Theo quy luật trong tăng đoàn do chính Phật đề ra, mỗi người chỉ được phép có ba y và một bình bát.

    Sau khi rời bỏ cung điện, và trên đường lang thang đi tìm chân lý, Thái tử Siddharta đã gặp một nhóm người tu khổ hạnh, nhóm anh em Kiều Trần Như. Ngài đi theo các người này. Sau sáu năm tu khổ hạnh hết sức nghiêm túc (mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè), thân thể của ngài chỉ còn da bọc xương. Một hôm nọ thái tử đi ra sông để tắm, thái tử đã ngất xỉu và được cô thôn nữ Sujata đi ngang qua đó cúng dường một tô sữa. Thái tử nhờ thế đã tỉnh lại, và sau đó hiểu rằng con đường tu khổ hạnh không thể đưa đến chân lý.  Thái tử vất cái tô đất xuống sông và tự nhủ : “ Nếu ta không tìm ra chánh pháp, thì tô đất này sẽ theo giòng sông trôi ra biển », nhưng tô đất đã trôi ngược giòng sông để hướng lên nguồn. (Con sông này, Ni Liên Thuyền, Niranjana, nay đã khô cạn, chỉ còn là một dải cát). Sau đó thái tử rời bỏ nơi tu khổ hạnh và tìm đến một khu rừng già, có nhiều cây to bóng mát, và chọn ngồi dưới một gốc cây thuộc loại cây sung, và tự nhủ: “Ta sẽ ngồi đây và quyết không rời nơi này cho đến khi ta tìm ra được chánh pháp. Nếu không ta sẽ chết ở nơi đây”. Trong khi thái tử ngồi thiền định ở dưới gốc cây sung, có một chú mục đồng gánh cỏ đi ngang qua đó, thấy thái tử ngồi trên đất đầy sỏi đá, đã dâng lên thái tử gánh cỏ của mình vừa mới cắt xong, để làm nệm cho thái tử ngồi. Nệm cỏ đó sau này hóa thành “kim-cang tọa”. Tại đây các chim, sóc, và các con thú trong rừng đã hái trái cây dâng lên cho thái tử.

    Sau 49 ngày ngồi thiền định ở đây, thái tử đã “Giác Ngộ” và đắc đạo thành Phật, là Phật Thích Ca Mâu Ni.

    Đức Thế Tôn lúc đó 35 tuổi.

    Cây sung sau đó được đặt tên là cây bồ đề (bồ đề = bodhi = giác ngộ). Năm 288 trước Tây lịch, một nhánh của cây bồ đề nguyên thủy này đã tự nhiên gãy và được con gái của vua A Dục đem về Tích Lan (Sri Lanka). Vua Tích Lan đã trồng lại nhánh này với đầy đủ lễ nghi. Cây bồ đề Tích Lan này được xem là cây xưa đời nhất do tay người trồng. Và như vậy, cây bồ đề hiện tại ở Bồ Đề Đạo Tràng là “hậu duệ” của cây bồ đề nguyên thủy nơi Đức Phật ngồi thiền định.

     

     

     

     

     

     

     

    Xem tiếp ở trang sau

     


    votre commentaire
  •  

    Nhật ký hành hương đất Phật

    (Tiếp theo)

     .......

     

    20/12/2010 : Trong thời gian chúng tôi ở tại Bodh Gaya, chúng tôi có đi thăm viếng rất nhiều chùa ở các vùng lân cận, chùa Cao-Miên, Tây Tạng, Thái, Nhật, Việt-Nam v.v.…  Chùa Việt-Nam ở đây rất nhiều.

     

    Các chùa Việt-Nam ở bên đây đều rất to lớn, đồ sộ ! Có chùa có tầng cấp đi thẳng từ sân lên chánh điện gần đến trăm bậc, lót đá cẩm thạch, hai bên có hai con rồng lớn, chạy dài uy nghi, lẫm liệt. Trong chùa mọi nơi đều lót đá cẩm thạch. Chúng tôi đến nơi đây trời đã nhá nhem tối. Vườn của chùa rất rộng, nơi đây có tượng đá lớn hai con hạt trắng, nơi nọ có tượng con voi lớn, này kia có ghế đá để ngồi trầm tư, thưởng cảnh dưới bóng cây, nọ có chiếc cầu nhỏ bắc ngang qua con rạch, kia có khóm trúc bên hồ sen v. v. và v.v. chắc ban ngày phải là cực kỳ lông lẫy !

     

    Chúng tôi có đi thăm một ngôi chùa. Chùa có môt trạm y-tê để săn sóc cho dân trong làng. Trên tường có các tranh vẻ : « Phải cắt móng tay cho sạch, phải rửa tay trước khi ăn, phải đánh răng súc miệng, phải tắm rửa thường xuyên  v.v. ». Chỉ như thế cho ta biết ý niệm về vệ sinh của dân chúng nơi đây rất là thấp kém !!! Trạm y tế chỉ có lá cây !

     

    Tại chùa Nhật có bức tượng Phật ngồi trên tòa sen, bằng đá trắng,  người ta bảo là cao nhất thế giới, làm bằng những tảng đá đúc ghép lại. Dưới sân, chung quanh bệ của Phật có các bức tượng của 10 ngài đệ tử lớn.

     

    Ananda : A-Nan, là người em họ của Đức Phật. Là thị giả của Phât. Từ hồi còn nhỏ, ngài A Nan đã đã hết sc khâm phục tài năng và trí tuệ của người anh họ là Siddharta này rồi. Ngài A-Nan có một trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy, và đã viết lại tất cả các kinh, thường nhập đề với câu : “ Như thị ngã văn : ” (Tôi nghe như thế này…)

     

    Sariputa : Xá Lợi Phất, là người anh cả trong các đệ tử của Phật. Khả năng trí tuệ của ngài Xá Lợi Phất là bậc nhất.

     

    Punna : Mạc Từ Tử, ngài có con mắt đầy lòng từ bi, rất giỏi về việc bốc thuốc trị bịnh. Ngài thuyết pháp rất hay.

     

    Mahakaccana : Ma Ha Ca Chiên Diên, có khả năng thuyết pháp và biện luận bậc nhất. Ngài được Đức Thế Tôn khen ngợi là người có khả năng giải đáp mọi câu hỏi.

     

    Rahula : La Hầu La, con của Phật.  Sau khi Đức Thế Tôn đã có 1250 đệ tử rồi, Ngài mới trở về quê cha. Từ trên cửa sổ của lâu đài, Công Chúa Yasodhara, mẹ của La Hầu La bảo La Hầu La rằng: “Người đi đầu của đoàn người đang tiến vào sân vua là cha của con đó. Con hảy ra đón cha con và đòi gia tài của con đi ”.  La Hầu La chạy ra và Đức Thế Tôn cho La Hầu La cạo đầu đi theo Đức Thế Tôn. La Hầu La là người đệ tử nhỏ nhất khi mới nhập vào tăng đoàn, 9 tuổi. Ngài La hầu La có “mật hạnh” bậc nhất.

     

    Subhuti: Tu bồ đề giải không đệ nhất (non-substantialité).

     

    Upali: Xuất thân từ hạng cùng đinh của xứ Ấn Độ, là thợ hớt tóc. Lúc bấy giờ vua Tịnh Phạn ra lệnh mỗi gia đình hoàng tộc phải có một người quy y theo Đức Thế Tôn. Upali cạo tóc cho các vương tôn công tử mà cứ khóc hoài. Các Vương tôn công tử mới hỏi:  “Vì sao ông cạo đầu cho chúng tôi mà lại khóc.  Upali trả lời: “Vì tôi thuộc hạng cùng đinh trong xả hội, không làm sao có thể theo hầu Đức Thế Tôn cả.” Chuyện này đến tai Đức Phật, Đức Phật cho phép Upali thọ giới và đi theo chân Phật.

     

    Mahakassapa: Ma Ha Ca Diếp. Là người tu khổ hạnh đệ nhất, thường đi khất thực trong các xóm nghèo khổ hạng nhất.  Có lần Ngài đi khất thực trong một xóm nghèo kia, có một bà già, hết sức nghèo khó, lại bị bịnh phong cùi. Ngài đến khất thực ở nhà bà ta. Bà ta nói, « Kính lạy ngài, tôi nghèo quá và không có gì để hiến dâng Ngài cả ». Ngài Ca Diếp, chỉ chén sữa đã lưng để ở trên bàn. Bà ta hết sức sợ, vì chén sữa này bà ta đã có uống rồi. Nhưng Ngài Ca Diếp vẫn cứ chỉ chén sữa, bà ta liền bưng chén sữa đến dâng Ngài Ca Diếp, nhưng một lóng tay của bà rụng, và rơi vào trong chén sữa. Ngài Ca Diếp liền uống chén sữa đó, tức thì bà ta chứng được quả phúc vô thượng, sinh lên cõi trời.

     

    Ngài Ma Ha Ca Diếp được Đức Thế Tôn nhường cho nửa toà ngồi và giao cho trọng trách giữ y, bát của Đức Thế Tôn để trao lại cho đức Phật tương lai.

     

    Mahamoggallana : Mục Kiền Liên, ngài có thần thông bậc nhất, đã từng lên cõi trời Hương Tích để kiếm thức ăn về dâng Đức Thế Tôn, vì lúc đó đang bị nạn đói khủng khiếp ở thế gian. Chúng ta cũng biết nhiều về ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ qua kinh Vu-Lan Bồn.

     

    Anuruddha : Xuất thân từ dòng họ Thích. Nhân thiên ứng cúng (oeil divin) đệ nhất.

     

    Trong các đệ tử của đức Thế Tôn có hai người không được phép nhập Niết bàn : ngài Ma ha Ca Diếp và ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa. Ngài Ma Ha Ca Diếp phải ở lại thế gian để giữ y, bát của Đức Thế Tôn và trao lại cho đức Phật Tương lai. Ngài Tân Đầu Lô có thần thông rất cao ; có một người trong làng thường hay nghịch, dâng cổ cúng dàng hay để trong giỏ, và treo trên ngọn cây cao. Ngài Tân Đầu Lô lúc nào cũng dùng thần thông lên cây lấy xuống.  Đức thế Tôn đã cấm không được dùng thần thông, vì sợ rằng dân chúng hiểu nhầm mục đích tu học là để đạt được thần thông, vì thế khi đức Thế Tôn biết, liền đuổi ngài Tân Đầu Lô sang xứ trời khác. Một thời gian lâu sau, các đệ tử khác rất buồn và nhớ người bạn Tân Đầu Lô rất vui tánh này, mới xin đức Thế Tôn cho phép ngài Tân Đầu Lô trở về. Đức Thế Tôn cho phép trở về, nhưng không cho phép nhập Niết bàn mà phải ở lại thế gian để chứng giám cho chúng sanh cúng dường.

     

    Ở chùa Cao-Miên, có một bức tranh vẻ một người đàn bà đang có thai, đứng trước đại chúng chỉ mặt đức Thế Tôn. Thầy Thích Nguyên Hùng giảng, với giọng một người đàn bà  : « Hắn đó, hắn là người cha của cái bào thai tôi đang mang đây »... nhưng sau đó bà ta vấp và ngã ra trước sân, trước đại chúng, cái bào thai chỉ là cái gối bà dấu ở trước bụng đã rớt ra ngoài ! Tất cả chúng tôi được một phen cười nứt bụng với cách kể hài hước của Thầy.

     

    22/12/2010 : Thăm núi Kê Túc (Kukkatapada), viếng hang nơi Ngài Ma Ha Ca Diếp ẩn thân để chờ Phật Di-Lặc ra đời. Tôi không đi được, vì đường lên núi rất cheo leo, và hôm đó tôi quá sức bịnh. Tôi hết sức tiếc đã không đi được. 

     

    Chiều đi viếng làng của cô thôn nữ Sujata và nền đất nhà cũ của chú mục đồng đã dâng cỏ Kusa cho Phật.

     

    23/12/2010 : Đi thăm Khổ Hạnh Lâm (Mahakala).  Nơi đây Đức Phật đã tu sáu năm khổ hạnh. Đường lên núi rất cao, nhưng có lót gạch dễ đi, có thể mua gậy để chống. Người già yếu có thể thuê cáng. Khách hành hương rất đông, không phải chỉ có mỗi nhóm của chúng tôi mà thôi.

     

    Tôi đã cố gắng đi lên bộ, nhưng phải nghỉ chân nhiều nơi để lấy lại sức. Các bạn trẻ trong nhóm có người đi lên núi « tam bộ nhất bái » (ba bước thì sup lạy một lạy). Ở bên đường lên núi có rất nhiều khỉ. Tôi thấy nhiều khách hành hương đã mua bánh bích quy, bán bên lề đường, để vất cho khỉ ăn. Trong khi đó người ăn xin ngồi hai bên đường rất đông họ không thèm để ý đến. (Tôi hết sức khó chịu …!!!)  Đặc biệt ở tại đây, các người ăn xin ngồi rãi rác và không bu xúm lại mỗi khi có người cho tiền hay vật thực.

     

    24/12/2010 : Đi thăm và tặng quà các em học sinh ở trường học do Ni sư Từ-Tâm làm hiệu trưởng (tập vở, bút v.v.… và kẹo).

     

    25/12/2010 : Ngày vía Đức Phật A Di Đà.

     

    Đức Phật A di Đà đã thành tựu được 48 đại nguyện để cứu độ chúng sinh. … « Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh… » như trong kinh chúng ta vẫn đọc (như con két !)  trong đó, đại nguyện thứ 18 là pháp môn niệm Phật. Bất luận ở hoàn cảnh nào, trình độ học vấn nào, bất luận giàu sang hay nghèo khó thế nào, cũng đều có thể niệm « Nam mô A Di Đà Phật ». Chỉ cần chí thành niệm 10 câu là có thể vãng sanh Tịnh Độ. Nghe danh hiệu Phật thì phát bồ đề tâm. Tuy nhiên không phải ai cũng làm được !

     

    Đi thăm núi Linh Thứu (Gijjhakũta - Vulture Peak), nơi Phật giảng kinh đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa và nhiều kinh khác.

     

    Thăm phế tích ngục tù của vua Tần-Bà-Sa-La (Vua bị con là A-Xạ-Thế dành ngôi, và giam vua trong ngục tối) ; và phế tích lãnh cung hoàng hậu Vi-Đề-Ni, vợ của vua Tần-Bà-Sa-La, nơi đây bà đã thỉnh cầu đức Phật cho bà pháp môn tu học để đến cảnh giới an lành, thoát khỏi cảnh khổ đau của kiếp người.  Nhân đó Phật giảng kinh Pháp Vô Lượng Thọ. Bà Vi-Đề-Ni đã quán thấy hiện tiền cảnh giới tịnh độ A-Di-Đà.

     

    Tối : Lễ quy y của 5 bạn trong nhóm hành hương, tại Bồ Đề Đạo Tràng. Đêm nay là đêm cuối cùng ở tại đây, ngày mai sẽ lên đường vĩnh viễn rời đây.  Bổng nhiên tôi cảm thấy nhói lên một niềm nuối tiếc !

     

    26/12/2010 : Sáng sớm, rời chùa Viên Giác.

    Trên đường đi Népal, chúng tôi ghé thăm chùa Kiều Đàm Di, do một ni sư Việt-Nam trụ trì, và nhiều thánh tích khác.

     

     

    Nalanda. Bây giờ chỉ còn là một phế tích, với các nền gạch, trên một khu đất rộng mênh mông. Đây là trường đại học đầu tiên trong lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ. Trường được xây cất lại bằng gạch vào thế kỷ thứ 5 Tây lịch, và là trường đại học có nội trú đầu tiên của toàn thế giới. Trường phát triển rất nhanh và nổi tiếng khắp vùng Châu Á, đã lôi cuốn rất nhiều sinh viên tu sĩ từ Tây Tạng, Miến Điện, Trung Quốc, Nam Dương, Đài Loan, Nhật Bản v.v. Lúc cực thịnh trường có đến 10,000 sinh viên.

     

    Ngài Huyền Trang (mà chúng ta rất quen biết qua truyện Tây Du Ký) đã tu học ở đây, thỉnh kinh về Trung Quốc, và sau đó dịch sang tiếng hán, để rồi từ đó Phật Giáo được lan truyền xuống Việt-Nam. Ở tại đây, theo trong kinh, đức Phật thường trú tại « vườn xoài ».

     

    Trong khuông viên trường có rất nhiều khỉ. Sau lưng tôi có người nói « Coi chừng khỉ ! Chúng giật xách của khách hành hương, nghĩ rằng trong đó có thức ăn, vì khách hành hương hay cho chúng nó ăn ». Khỉ ở đây rất bạo dạn. (Tôi bất giác cười thầm, nếu mà bi khỉ nó giật xách tay thì làm sao mà rược bắt được chúng, chúng nhảy từ cây này sang cây khác từ trong tường rào ra cây ngoài đường !) Câu chuyện này làm tôi sực nghĩ, tôi không thấy trẻ em móc túi hay cướp giật ngoài đường trong mấy ngày qua. Một điểm đáng khen. Ngoài ra còn một điểm nữa tôi để ý, người Ấn Độ sống hiền hòa với nhau, nhà này kế liền nhà khác, không có hàng rào phân chia nhà này nhà khác… không có ý niệm « đây là của tôi » … v.v.

     

    Thăm Vaisali.  

     

    Thăm di tích giảng đường Trùng Các, nơi có ao Di hầu do bầy khỉ đào cho đức Phật tắm, và trụ đá do vua A-Dục Ashoka trồng (đế đánh dấu nơi có di tích của Phật) vẫn còn nguyên vẹn.

     

    Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, Bà Maha Gautami, nhũ mẫu của đức Phật, cùng với 500 tỳ nữ đến xin xuất gia theo chân đức Thế Tôn. Bà Gautami cùng các tỳ nữ đi bộ từ thành Ca Tỳ La Vệ đến Vaisali, chân của các bà rách nát, máu nhuộm đỏ đất. Nhưng có nhiều nguyên nhân làm cho Đức Phật không muốn nhận đệ tử người nữ. Tuy nhiên khi tôn giả A-nan hỏi : « Người nữ có khả năng thành Phật không ? » thì đức Thế Tôn trả lời là có, và sau đó Bà Gautami cùng đoàn tỳ nữ được xuất gia theo chân Phật.

     

    27/12/2010 : Viếng thăm vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) ở miền nam Népal, sát biên giới Ấn Độ. Đây là nơi Phật đản sanh có dấu tích ghi lại trên trụ đá của vua A-Dục và các đền, tháp truy niệm từ thế kỷ thứ III trước tây lịch cho đến thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Đây là một trong những địa điểm hành hương quan trọng nhất của một trong những tôn giáo lớn trên thế giới.

     

    Cách nay hơn 2500 năm, Hoàng Hậu Maha Maya, vợ vua Tịnh Phạn Shuddhodana của xứ Ca Tỳ La Vệ, nằm mơ một giấc mơ thật kỳ lạ.  Một con voi trắng sáu ngà và rực sáng đi đến và tan biến vào cơ thể của bà. Hoàng hậu tỉnh dậy và cảm thấy một niềm yên vui không bờ bến, như chưa bao giờ bà cảm được như thế. Các hiền nhân được tham khảo cho biết rằng Hoàng hậu sẽ sinh một vĩ nhân.  Khi sắp đến ngày sinh, theo tục lệ thời bấy giờ, bà trở về quê mẹ, đi cùng với một đoàn tỳ nữ. Trên đường đi bà ghé lại một vườn hoa đẹp Lâm Tỳ Ni  để thưởng ngoạn. Và tại đây, níu vào một cành cây, hoàng hậu đã sinh thái tử Siddharta. 

     

    Năm đó là năm 623 trước tây lịch.

     

     

    28/12/2010 : Thăm phế tích thành Ca Tỳ La Vệ ở sát biên giới Népal. Nơi đây thái tử Siddharta đã sống suốt cuộc đời niên thiếu cho đến năm 29 tuổi.

     

    Có rất nhiều chuyện nhiệm mầu đã xảy ra lúc thái tử Siddharta ra đời, do đó các hiền nhân đã tiên đoán rằng thái tử sẽ là một bậc vĩ nhân, một vì vua rất lớn.  Vua Tịnh Phạn rất hài lòng nghĩ rằng con mình sẽ là một vị vua còn quyền lực hơn cả chính mình nữa.  Nhưng có một hiền nhân lại nói rằng “sau này thái tử sẽ chọn một cuộc sống nghèo khổ để cứu nhân độ thế”. Vua Tịnh Phạn hết sức lo. Vua cho xây ba cung điện cực kỳ lộng lẫy phù hợp cho ba mùa: xuân, hạ, và thu-đông, đầy hoa thơm cỏ lạ, với ca nhạc đàn hát quanh năm, không thiếu một thứ gì có thể làm cho thái tử vui sống. Các tỳ nữ và người làm việc có bổn phận phải luôn có một nét mặt vui tươi, và phải luôn luôn làm cho thái tử vui, để không bao giờ có ý định rời bỏ cung điện. Thái tử sống ở đây, loanh quanh trong ba cung điện này, không bao giờ bước chân ra ngoài, không bao giờ thấy dân chúng ở bên ngoài thành, được vua cha che chở, bảo bọc không cho Thái tử nhìn thấy hay biết đến các khổ đau của cuộc đời.

     

    Năm thái tử 29 tuổi vua cha nghĩ rằng đã đến lúc nên nhường ngôi lại cho con. Thái tử xin phép vua cho đi ra ngoài xem tình hình dân chúng. Vua cha cho phép vì nghĩ rằng con mình phải biết tình hình dân chúng để cai trị. Trong chuyến đi này, Thái tử đã nhìn thấy các khổ đau của cuộc đời, cảnh người già, người bệnh, người chết bị thiêu trên giàn hỏa … những khổ đau mà không ai tránh khỏi được. Thái tử quyết định rời bỏ cung điện để đi tìm Chân Lý : do đâu có khổ đau, làm sao diệt được khổ đau.

     

     

    Thăm Tịnh Xá Kỳ viên ở Sravasti.

     

    Khu vườn này do trưởng giả Cấp-Cô-Độc Anāthapindika dâng cúng cho đức Thế Tôn. Ông ta đi tìm kiếm khắp nơi, chỉ thấy nơi này là đẹp và thích hợp hơn cả nên đã năn nỉ Thái tử Kỳ-Đà Jetakumāra, con vua Ba-Tư-Nặc của thành Xá Vệ (Sravati) bán lại cho ông khu vườn này để chuẩn bị đón Phật cùng tăng đoàn.  Thái-Tử Kỳ Đà nói: “Ông không mua được đâu, chừng nào ông trải được vàng đầy khu vườn tôi mới bán.” Cấp Cô Độc bằng lòng và cho đem xe ngựa, xe voi, chở đầy vàng đến. Nhưng các chuyến xe đầu tiên này chưa đủ để lót hết khu vườn, còn một phần đất gần cửa chưa được lót vàng, Cấp Cô Độc liền sai chở thêm vàng đến. Nhưng trước sự hân hoan, vui mừng của Cấp Cô Độc, thái tử Kỳ Đà đã hết sức xúc động, liền năn nỉ Cấp Cô Độc nhường lại cho Thái tử phần đất này, xem như là phần đóng góp của thái tử và hai người cùng nhau xây dựng trang trại để chuẩn bị đón đức Thế-Tôn cùng tăng đoàn. Các kinh đều nhắc đến khu vườn này là Kỳ-Thọ Cấp-Cô-Độc viên (Bosquet Jeta-Anathapindika).  

     

    Đa số kinh điển đều được đức Phật giảng tại đây như trong kinh A Di Đà, ta vẫn thường đọc: “Như thị ngã văn, nhứt thời Phật tại Xá Vệ quốc Kỳ-Thọ Cấp-Cô-Độc viên…

    Đức Thế Tôn an cư tại đây 24 mùa mưa.

    Tại vườn Cấp Cô Dộc này chúng ta thấy có một mô gạch xây cao, đó là vị trí mà vua các nước lớn đã đắp xây lên để đón Phật trở về sau khi Phật lên viếng các cỏi trời khác.

     

     

     

     

     

     

     

    Xem tiếp ở trang sau

     

     


    votre commentaire
  •  

    Nhật ký hành hương đất Phật

    (Tiếp theo và hết)

      ....

     

     

    29/12/2010 : đi Kushinagar, nơi đức Phật nhập Niết bàn, ở rừng sala. 

    Ổ đây chúng tôi được đảnh lễ tượng đức Phật nằm. Khách thập phương đến đây chiêm bái rất đông, có người đang dán vàng lá vào gót chân Phật.

     

    Thượng Tọa giảng : Ý nghĩa của Niết Bàn là nơi con người không còn bị xáo động nữa, không còn bị hủy diệt nữa. 

     

    Bốn đức tính của Niết Bàn là: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

     

    Thường : là bất biến.

    Lạc : Đời là khổ đau. Tu không phải để cảm thọ khổ đau mà để cảm thọ lạc.

    Ngã : Tu tập để đạt đến vô ngã, nhưng kết qủa cuối cùng của tu học lại vẫn là Ngã. Phải diệt cái ngã để đi đến Chân Ngã.

    Tịnh : Niềm vui ở đời không thật vì chỉ có giá trị tạm bợ trong một đời thôi. Tu học là để đạt đến niềm vui tuyệt đối.  Thế giới ta đang sống bị ô nhiễm bởi những phiền não trong tâm. Bằng cái tâm ô trược thì không làm sao nhìn thấy được sự thanh tịnh của đất Phật. Phải gột rửa tất cả các phiền não này thì đạt được Tịnh.

     

    Cây sala kiên cố, có sức chịu đựng dẽo dai qua 4 mùa, qua ngàn năm, vì thế rừng sala này còn có tên là Kiên Cố lâm. Đức Thế Tôn chọn nơi đây để nhập Niết Bàn.

    Khi Phật đến khu rừng sala này, thì lá các cây sala chuyển màu sang màu xám.  Không hiểu vì sao ?

     

    đây người thợ rèn tên Thuần Đà (Cunda) dâng Phật tô cháo nấm.  Phật biết là nấm độc, cực độc.  Các đệ tứ của Phật hết sức lo cho Thuần Đà.  Trong cuộc đời thọ nhận cúng dường của đức Phật, có hai lần là quan trọng nhất : trước khi Phật thành đạo (nàng Sujata cúng dường sữa) và khi Phật nhập Niết Bàn (Thuần Đà). Sau khi Phật nhận tô cháo cúng dường do Thuần Đà dâng, Thuần Đà liền chứng được quả « bất thoái ». Thuần Đà cúng dường Đức Như Lai với ý chí duy nhất được Phật thâu nhận vào hàng thánh chúng.

     

    Đức Phật nhập Niết Bàn trong khi nằm thiền định, nằm nghiêng bên tay phải, đầu hướng về bắc, mặt hướng về tây, miệng mỉm cười. Lúc đó đức Phật 80 tuổi.

    Trong suốt 45 năm cuối đời của đức Phật,  Ngài đã đi chu du khắp vùng hạ lưu và phụ lưu sông Hằng để giảng Pháp. Lời giảng dạy của Ngài lúc nào cũng phù hợp với trí tuệ hiểu biết của quần chúng. Khi ngài A Nan lo lắng sẽ không còn Thầy để dẫn dắt, đức Phật đã trả lởi « Các lời giảng dạy của ta từ bấy lâu nay sẽ là Thầy của các ngươi ».

     

    Tháp Trà Tỳ : nơi hỏa táng đức Phật.  Bảy ngày sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, thì thân Phật được thiêu trên giàn củi trầm. Công việc trà tỳ Phật đã căn dặn trước là để cho các cư sĩ tại gia lo, đó là các cư sĩ của bộ tộc Mạt La. Nhưng đến khi châm lửa thì không sao châm lửa được, nên phải chờ ngài Ma Ha Ca Diếp.  Ma Ha Ca Diếp đã tức tốc trở về, và lúc đó chân của đức Thế Tôn đã tự nhiên thò ra ngoài để cho ngài Ma Ha Ca Diếp đảnh lễ và sau đó giàn củi đã tự nhiên phát lửa (Kinh Đại Bát Niết Bàn nam truyền và bắc truyền, Kinh Trường A Hàm).

     

    Nghỉ đêm tại Patna

     

    30/12/2010 : Sáng sớm rời Patna, trên đường về New Delhi, viếng đền Taj Mahal bên sông Yamuna ở Agra. Đền này được xếp hàng thế giới kỳ quan thứ 7. Đây là nhà mồ tòan bằng đá cẩm thạch trắng do vua Shah Jahan, của xứ Mughal, xây cho vợ là hoàng hậu Mumtaz Mahal, vào thế kỷ thứ 17. Công trình xây cất mất 22 năm mới xong, toàn bằng đá cẩm thạch trắng, (đá tảng, chứ không phải đá đúc). Hoàng hậu Mahal đã trút hơi thở cuối cùng sau khi sinh hạ đứa con thứ 14. Vua Shah Jahan quá thương vợ nên muốn xây một nhà mồ cho vợ mà muôn đời ai ai cũng phải nhắc đến, để bất tử hóa mối tình của ông ta dành cho vợ.

     

     Shopping”... Rời Agra đi New Delhi, nghỉ đêm tại New Delhi, ở khách sạn Country Inn

     

    31/12/2010:  Sáng, viếng viện Bảo Tàng quốc gia Ấn Độ ở New Delhi, đảnh lễ Xá Lợi của Phật được chưng bày ở đây. Xá Lợi này được tìm thấy do một nhà khảo cổ người Pháp vào năm 1918 tại Uttar Pradesh.   Sau khi hỏa thiêu, tro của Phật đã được chia ra cho 8 nước trong 16 nước của thời đó, và một trong 8 nước này là Ca Tỳ La Vệ. Đây là Xá Lợi thuộc thành Ca Tỳ La Vệ.  Xá Lợi khi được tìm thấy (khai quật) được đựng trong bình đá, có ba ngăn, có khắc những dòng chữ như trong các tài liệu ghi chép thời vua A-Dục. Xá Lợi của Phật được chưng bày ở đây trong một ngôi tháp nhỏ bằng vàng khối do vua Thái tặng cho Viện Bảo tàng.

     

    Shopping”.

     

    Tối 31/12/2010: Rời khách sạn. Các nhóm từ Việt-Nam và Úc Châu, thì đi trước chúng tôi vài tiếng đồng hồ lúc 7 giờ tối. Còn chúng tôi, các nhóm đến từ Âu Châu đều cùng lấy máy bay về Amsterdam, để rồi từ đó ai về nhà nấy !

     

    Chúng tôi chia tay nhau trong phi trường Amsterdam, trong một bầu không khí đầy quyến luyến sau hơn 15 ngày sống bên nhau. Mọi người trao đổi cho nhau nào số điện thọai, nào địa chỉ bưu điện, nào địa chỉ e-mail để còn mong giữ được mối liên lạc với nhau. Chúng tôi cũng chúc mừng năm mới cho nhau, vì hôm đó là ngày 01 tháng  Giêng tây lịch.

     

    Có một điều làm cho tôi cảm thấy hết sức xót xa trong lòng trong chuyến đi hành hương này. Bên cạnh những cảnh lầm than, nghèo đói của dân chúng nơi đây, cũng như ở Việt-Nam ta mỗi lần tôi nghĩ đến, tại sao các chùa Việt-Nam ở đây lại xây cất, lộng lẫy, xa hoa đến như thế ! Tôi tự hỏi “Đức Phật nghĩ như thế nào ?” Với bao nhiêu tiền của hoang phí xa xỉ đó, có thể làm được những công cuộc từ thiện quy mô, và có quy hoạch về lâu về dài.  Đáng buồn thay !

     

    Tôi về đến nhà (Périgueux, Pháp) lúc 3 giờ chiều ngày thứ bảy 01/01/2011. Sau khi thắp nhang trên bàn Phật để cảm tạ chư Phật đã cho phép tôi đi hành hương bình an vô sự, tôi liền mở máy ordinateur để “trình diện” với bà bác sĩ bạn của tôi, cho bà ta biết rằng tôi đã đi về binh yên. Bà ta trả lời ngay “Rất mừng được biết bạn đi về bình an. Phải có một đức tin mãnh liệt mới có thể đi như vậy, tôi hết sức khâm phục bạn.”  Bổng nhiên tôi cảm thấy nhói trong tim. Có thật là tôi có một đức tin “mãnh liệt” không? Không, đây chỉ là một quyết định cẩu thả, thiếu suy nghĩ của riêng tôi mà thôi  !!!

     

    Lạy Phật, con xin chí thành sám hối ! ” Tôi tha thiêt cầu nguyện thầm trong tâm tôi.

     

    Trong suốt cả tuần liền, âm điệu của một bài hát rất đơn sơ và rất dễ thương, cứ văng vẳng trong đầu và trong tai tôi:

     

    Ai nói gì thì ta cứ nghe… Nghe sâu hiu thấu, thương nhiu… Ta ngồi ta thở thật sâu, Đau buồn chuyển hóa thật mau… Tang tình tang tính tình tang …”

     

    Đó là bài hát mà quý Thầy hay xướng lên và chúng tôi đã hát theo, trên các đoạn đường dài trên xe ca.

     

    Trên đây tôi đã ghi lại hết sức trung thực những gì tôi đã ghi nhận được và một vài cảm nghĩ của riêng tôi.

     

    Tôi xin thân mến gởi đến các bạn đã cùng đi hành hương trong chuyến này với tôi, và xin cầu chúc các bạn cùng gia đình được thân tâm an lạc, với mỗi ngày một niềm vui trong năm Tân Mão sắp tới và tôi mong có ngày chúng ta sẽ còn được gặp lại nhau.

     

    Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ ” mà, phải không các bạn ?

     

     

     

    Kitty

    Périgueux, 28/01/2011

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    1 commentaire
  •  

     

    Mon pèlerinage en Inde

    15/12/2010 – 01/01/2011

     Kitty

     

    En Septembre 2010, je décidai d’entreprendre un pèlerinage en Inde avec un groupe de fidèles de la Pagode Van-Hanh à Nantes. Il m’a fallu 2 mois entiers pour obtenir tout ce qu’il fallait, billets d’avions, passeport et visas. Souvenez-vous que votre passeport doit être encore valide au moins 3 mois après votre départ du pays que vous visitez, c’est une loi internationale. J’étais très contente, je me frottais les mains : « Il ne reste plus qu’à attendre le jour du départ. »

    Mais … (Pourquoi y-a-t-il toujours des ‘MAIS’ ?) deux semaines avant le départ, j’eus soudainement toutes sortes de problèmes de santé, et de graves, par dessus le marché ! Devrais-je annuler le voyage ? « Ce n’est pas sérieux », me suis-je dit. J’avais promis à une amie que nous allions entreprendre ensemble ce voyage. Une promesse est une promesse. Le Vénérable de la Pagode Van-Hanh était aussi au courant de ma participation. Je décidai alors d’entreprendre le voyage quand même après avoir consulté mes médecins. Ils m’ont autorisée à y aller après m’avoir donné toutes sortes de conseils (ou plutôt des ordres) exprès et précis.

     

    15/12/2010. Le jour du départ est arrivé - un peu trop tôt pour moi. Le cousin de mon amie nous emmena en voiture à l’aéroport de Bordeaux à 3h du matin, puis de là nous prîmes l’avion pour New Delhi avec escale à Amsterdam. A l’aéroport d’Amsterdam nous rejoignîmes les autres groupes du pèlerinage: le plus nombreux était celui de Nantes, un autre groupe était venu du Danemark ainsi qu’une femme seule d’Allemagne. Ensemble nous prîmes l’avion pour New Delhi. Nous y arrivâmes à une heure du matin le 16/12/2010. Ici deux autres groupes nous attendaient: l’un du Viet-Nam et l’autre d’Australie. Une religieuse Vietnamienne, Sœur Tuê-Dam-Huong, qui avait fait des études Bouddhistes en Inde et qui s’y trouvait à ce moment là, nous accueillit et nous amena à un hôtel à New Delhi pour y passer le reste de la nuit. Dans le groupe de Nantes, il y avait 4 Françaises ; une Vietnamienne parmi les fidèles du groupe de Nantes, connaissant bien les termes Bouddhistes, fit office de traductrice pour ces dames.

     

    Notre pèlerinage à partir de ce jour-là fut organisé de A à Z, itinéraire, hôtels, restaurants, autocar, par Sœur Tuê-Dàm-Huong pour nous tous. Nous étions 35 au total, y compris le Vénérable Thich-Thiên-Huê venant du Viêt-Nam, le Vénérable Thich Nguyên-Lôc, supérieur de la Pagode Van-Hanh, le vénérable Thich-Nguyên-Hùng, Sœur Tâm-Nghia de la Pagode Van-Hanh, Sœur Tuê-Dàm-Huong elle même et nous autres, simples mortels, des quatre coins du monde. J’étais la plus âgée du groupe ; on me réserva la priorité, une place dans les premiers rangs de l’autocar, pour être moins secouée, car les routes étaient « infernalement » cahoteuses d’après ceux, les jeunes, qui étaient à l’arrière de l’autocar.

     

    Sœur Tuê-Dàm-Huong fut très minutieuse dans son organisation, car elle avait de l’expérience. Nous nous vîmes distribuer un chapeau en toile identique pour chacun, afin de nous reconnaître et de ne pas nous égarer. Dans l’autocar nous étions priés de rester toujours à la même place, et de vérifier si notre voisine était bien là chaque fois que nous montions dans l’autocar avant de quitter un lieu. (Ce qui était complètement superflu, car, notre guide Indien « comptait » nos têtes très consciencieusement à chaque fois.)

    Dans l’autocar, nous avions un chauffeur, un aide-chauffeur et un guide indiens. Tous les trois, travaillaient pour nous presque 14 à 16 heures par jour.

     

    L’itinéraire de notre pèlerinage était choisi au mieux en fonction de la proximité des sites par rapport aux routes empruntées, et non selon l’ordre des événements dans l’histoire. Les quatre sites principaux de notre pèlerinage étaient : le lieu où le Bouddha est né, le lieu où il atteignit le Suprême Eveil, le lieu où il donna son premier sermon, et le lieu où il passa au Nirvana.

     

    16/12/2010. Nous prîmes l’avion pour Vârânasî ; Cette première portion de voyage en Inde était la seule faite en avion, les autres parcours seraient tous réalisés en autocar.

    A chaque lieu saint, le Vénérable Thich-Nguyên-Hùng nous racontait ce qui s’était passé en ce lieu autrefois, d’après les sutras. Je vais essayer de noter ici ce que j’ai pu entendre et enregistrer dans ma mémoire entre mes quintes de toux à dechirer les poumons, car à cet époque ci, il faisait froid aussi là-bas, en Inde. Après deux jours, tout le monde, sans exception, était tombé malade. Nous pensions tous que le climat serait doux en Inde et n’avions pas amené de vêtements adéquats.

    Nous sommes restés deux nuits à Vârânasî dans un hôtel.

     

    17/12/2010 : Le Parc des gazelles

     

    Nous visitâmes le Parc des gazelles où, après avoir atteint l’Eveil, Bouđha Siddharta Shākyamuni avait fait son premier sermon sur les Quatre Nobles Vérités aux 5 frères Kondanna, qui étaient ses anciens amis ascètes, et qui avaient déjà tant admiré le prince pour son observance rigoureuse de la pratique de l’ascèse. Ce sermon appelé la Mise en mouvement de la roue du dharma, a été traduit en plusieurs langues, et gravé sur des plaques en marbre. Comme j’étais émue de voir la version Vietnamienne présente parmi les autres versions autour de la place des statues du Bouddha et des cinq frères Kondanna !

    Dans le parc, de jeunes enfants vendaient de la nourriture pour les gazelles, des fruits sauvages, et nous étions ravis de pouvoir donner à manger aux gazelles, de caresser leurs têtes, et de les regarder les yeux dans les yeux ; leur regard était si doux. Mais tout d’un coup, je fus frappée par une pointe de douleur, de lire dans leurs yeux une note de profonde tristesse ! (Le parc a un grillage en métal bien solide ! )

     

    Pourquoi Bouddha a-t-il choisi de faire son apparition dans ce pays ? Le Vénérable Thich Nguyên Hùng nous expliqua, le soir après le repas :

     

    * C’est un pays où règne particulièrement l’injustice à cause de la division de la société en castes. (4 castes différentes, hiérarchisées, endogames et héréditaires, et une 5ème catégorie, dite "hors-caste", où sont classés les "intouchables" considérés comme impurs, la classe la plus basse, la plus méprisée de la société). Bouddha était le premier révolutionaire dans l’histoire de l’homme à vouloir abolir cette injustice. Il a dit : « Il n’y a pas de classes sociales différentes quand nos larmes sont également salées, et notre sang également rouge ».

    * C’est un pays où il y a le plus de religions différentes, plus de 90 religions, mais aucune de ces religions n’a pu répondre à la question « Comment mettre fin à la souffrance ». L’enseignement du Bouddha nous montre la voie du salut.

    * C’est une des plus vieilles civilisations du monde. Le Bouddhisme, la fleur de cette civilisation, est un message d’amour et de sagesse, le chemin vers le bonheur suprême.

    * Enfin, c’est un pays pauvre, très pauvre, où il y a beaucoup de misère et de souffrance, seule la compassion d’un boddhisatva ou d’un Bouddha pourrait le sauver.

     

    18/12/2010 : Visite du Gange à Bénarès

     

    Le Gange tient une place très importante dans la vie des Indiens, non seulement sur le plan géographique, économique, mais il détient aussi un caractère sacré lié à la religion. Le Gange, fleuve de 3090 km, né dans l’Hymalaya, le toit du monde, se jette dans le Golfe du Bengale en passant par Kanpur, Bénarès et Patna. Les Indiens : hindouistes, musulmans, sikhistes, jaïnistes … etc… croient que l’eau du Gange a le pouvoir de purifier l’âme du mort, et de la diriger tout droit au paradis. En plus, en Inde il y a aussi une religion qui vénère l’Eau. Mais dans les sutras bouddhistes, il n’y a que la mention de « sable du Gange » pour désigner un chiffre incommensurable qu’on ne peut pas évaluer, comme les grains de sable du Gange. Les Indiens croient aussi que le feu a le pouvoir de purifier l’âme des morts. Ainsi la coutume Indienne depuis la nuit des temps veut que les morts soient brulés, et leurs cendres jetées dans le Gange. Les bouddhistes ne représentent que 10% de la population Indienne.

    Ici nous louâmes une petite barque pour aller au large, loin du rivage, y déposer de petites assiettes creuses flottantes, remplies de fleurs (des oeillets) et portant chacune une petite bougie. Ces gestes sont symboliques, accompagnés de nos prières, pour guider et éclairer les âmes errantes à trouver le bon chemin.

    Le long de la berge, les gens se baignaient, lavaient leur linge et leurs ustensiles. Des saris multicolores séchaient, étendus, sur les marches, ce qui rendait les berges du Gange très colorées. Le long de la berge aussi, parfois on pouvait voir une estrade en ciment pour incinérer les morts, et des réserves de bois de chauffage. Les riches pouvant se procurer beaucoup de bois, leurs corps seront ainsi bien incinérés, il n’en restera que des cendres. Les pauvres, qui ne peuvent se procurer que quelques branches, auront parfois leurs corps seulement à moitié brûlés, et seront jetés tels quels dans le Gange !!!

     

    L’après midi, nous quitâmes Vârânasî pour aller à Bodh Gaya en autocar.

    Après seulement quelques trajets, nous avons pu constater que les Indiens dans ces petites villes sont bien pauvres, vu les innombrables huttes le long des routes, (si encore on pouvait les appeler ‘huttes’). Partout il y a des mendiants, des centaines, hommes, femmes, enfants, handicapés … surtout dans les lieux saints où il y a des touristes en pèlerinage. Partout règnent la pauvreté et la misère.

    L’Inde est un pays de poussière ! Les feuilles au bord des routes sont couvertes d’une couche épaisse de poussière, si épaisse que la pluie n’arrive pas à les nettoyer. Des vaches se promènent tranquillement dans les rues, c’est aux voitures de les éviter. Leurs excréments sont utilisés comme combustible pour le chauffage, après avoir été comprimés à la main en petits gâteaux ronds, aplatis et séchés sur l’herbe au bord de la route, ou collés bien alignés au mur. (Je croyais au départ que c’était une sorte de décoration des murs nus ! )

    Les légumes étalés dans les marchés exhibaient un vert bien tendre, bien frais, et comportaient toutes les variétés (ou presque) qu’on trouve chez nous, au Viet-Nam. Sûrement ils étaient très « BIO », cultivés avec du fumier naturel, des excréments de vaches, de porcs (et peut être aussi d’humains !) On nous conseillait de ne boire que de l’eau en bouteille, même pour nous brosser les dents. « Les légumes dans nos assiettes sont-ils lavés avec de l’eau en bouteille ? » me suis-je demandé. Le premier soir, à notre arrivée à la pagode Viên-Giac à Bodh Gaya, après une longue journée de route en autocar bien fatigante, nous avions tous très faim. Nous étions si contents et heureux de nous voir servir de la soupe « bun riêu » tellement appétissante avec de la salade verte, fraîche et tendre ! Nous nous étions tous bien régalés après trois jours au régime curry Indien dans les hôtels. Le lendemain tout le monde avait « mal au ventre » ! Je me suis dit « il faut laver les légumes avec du permanganate de potassium ! ».

    Nous arrivâmes à la Pagode Viên-Giac à Bodh Gaya vers 19 heures, il faisait déjà nuit. La Pagode se trouvait à moins de 10 minutes à pied du parc Maha Bodhi.

    La Pagode possède plusieurs chambres, suffisamment pour nous héberger tous, avec un minimum de confort, une large salle à manger et une salle de prière spacieuse. Tous les soirs nous faisions la prière ensemble, ou nous écoutions le Vénérable Thich Nguyên-Hùng expliquer les sutras.

     

    19/12/2010 : Le Parc Maha Bodhi à Bodh Gaya.

     

    Tous les jours, à 5h du matin, nous nous rendions à pied au temple Maha Bodhi pour prier près de l'arbre bodhi où Bouddha atteignit l'Eveil. Soeur Tuê-Dam-Huong nous a donné à chacun une lampe de poche.

    Un mur assez haut en maçonnerie entourait et protégeait le pied de l'arbre. En réalité, l’arbre originel au pied duquel Bouddha était assis en méditation jusqu'à son Eveil a été détruit plusieurs fois après de nombreuses guerres religieuses. Il aurait été replanté à chaque fois à partir d’une bouture Sri-Lankaise. Selon un archéologue anglais, le dernier remplacement aurait eu lieu il y a environ 150 ans.

     A côté de l’arbre bodhi, un temple en forme de pyramide de plus de 60 mètres de hauteur a été érigé vers le IIIème siècle av. J.-C. par le roi Ashoka.  A travers des siècles, ce temple a été à plusieurs reprises restauré. La base du temple est un carré, mesurant plus de 35m de côté. Au tour du temple, il y a une large allée dallée en marbre blanc. C’est le cœur du parc de méditation. Le temple se trouve dans une vallée. Depuis l’entrée, il faut descendre plusieurs volées de marches. Les fidèles et touristes en pèlerinage viennent ici très nombreux pour prier ou faire la méditation en marchant. C’est pourquoi nous nous rendions ici tous les jours, tôt le matin, à 5h, à fin de trouver une place pour nous tous, 35 personnes. Il y avait bien d’autres groupes de pèlerins, Thais, Japonais, Chinois, Tibétains … et Vietnamiens aussi.

    Dans la salle principale du temple, il y avait une grande statue du Bouddha assis. Les fidèles se bousculaient dans la salle devenue bien trop étroite. Des gens apportaient en offrande au Bouddha des pièces d’étoffe en soie jaune d’une dizaine de mètres chacune. Et à chaque fois, le moine en charge du temple changeait l’habit du Bouddha. Ainsi, il le changeait plusieurs fois par jour. Soudain, je me souvins d’une petite anecdote que le Vénérable nous avait racontée : Quand Bouddha revint dans son pays natal après avoir atteint l’Eveil, sa mère nourricière, la reine Maha Gautami, lui confectionna des toges en brocart jaune. Bouddha les refusa, disant qu’il avait déjà ses trois toges, et que c’était suffisant. Dans le règlement du sangha (communauté spirituelle), fixé par le Bouddha lui même, chaque moine avait droit seulement à 3 toges, et une seule écuelle.

    Notre pèlerinage coïncidait avec la visite de Sa Sainteté le Karmapa-Lama. Celui ci, est la 17ème réincarnation d’un ancien maître dans le passé. C’est pourquoi le parc de méditation était bondé de moines Tibétains en toges rouges ou jaunes qui occupaient toutes les pelouses étagées du parc. Le temple et le parc étaient toujours décorés de fleurs, de vraies fleurs, (Je les ai touchées) en particulier des oeillets jaunes et rouges enfilées en guirlandes. Les statues de Bouddha à l’intérieur du, temple, comme à l’extérieur, des centaines, avaient toutes des guirlandes de fleurs sur les épaules. (Ou peut être à cause de la visite du Karmapa-Lama ?) Partout il y avait des feuilles d’or collées sur les statues et aux murs.

    Après avoir quitté le palais, et pendant son errance en quête de la Vérité, le prince Siddharta Gautama du clan Shākya a rencontré un groupe d’ascètes, les frères Kondanna (Kondanna, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma et Assaji), et il les a suivis. Pendant 6 années de pratique de l’ascèse stricte et austère, (ne mangeant qu’un grain de césame par jour) le prince était devenu squelettique, et n’avait plus que la peau sur les os. Un jour il alla à la rivière pour se baigner, il s’évanouit.
    Une jeune villageoise du nom de Sujata, passant par là lui offrit un bol de lait, ce qui le réanima et le sauva. Le prince comprit alors que mortifier le corps ne mène pas à l’Eveil (ou connaissance suprême). Il jeta le bol dans la rivière en se disant, « si je ne trouve pas la voie du salut, ce bol suivra le courant et ira à la mer », mais le bol s’est retourné vers l’amont. (Cette rivière, Niranjana, maintenant asséchée, n’est plus qu’un banc de sable). Le prince décida de quitter ce lieu, d’abandonner ses pratiques ascétiques, et de vivre ni à un extrême, ni à un autre, conscient de la signification profonde du Chemin du Milieu. Il alla dans une forêt dense, et choisit de s’asseoir au pied d’un figuier, en faisant vœu de ne pas bouger de là avant d’avoir atteint l’Illumination. Les oiseaux et autres animaux de la forêt lui apportèrent des fruits pour le nourrir. Ici aussi, un jour, un chevrier passant par là avec des bottes d’herbe fraîchement coupée, voyant le prince assis par terre sur des cailloux, lui offrit ses bottes d’herbe pour en faire un coussin moelleux. Ce coussin ensuite devint un « trône de diamant ».

    Après 49 jours de méditation le prince atteignit le Suprême Eveil, et devint Bouddha Siddharta Shākyamuni.

    Il avait 35 ans.

    Le figuier au pied duquel il était assis fut alors appelé "bodhi" (bodhi = éveil) et devenu l’arbre sacré (ficus religiosa), le symbole de l’enseignement du Bouddha. En 288 av. J.-C., une branche de l’arbre originel qui s’était détachée d’elle-même fut apportée à Sri Lanka par la fille du roi Ashoka, Sanghamitta. Le roi de Sri Lanka, Devanampiya Tissa, planta la bouture en grande cérémonie. Cet arbre (à Sri Lanka) est le plus ancien angiosperme du monde planté par l’homme. Le présent arbre bodhi du Parc Maha Bodhi à Bodh Gaya est donc un « descendant » de l’arbre originel.

       

    (à suivre)


    votre commentaire
  •  

     

     

     

    Mon pèlerinage en Inde

     

     

    (suite)

     

     

     20/12/2010. Nous sommes restés à Bodh Gaya plusieurs jours.

    Nous avons visité plusieurs pagodes dans les alentours : pagodes Tibétaines, Japonaises, Khmères, Thais, Chinoises, et Vietnamiennes... Il y avait beaucoup de pagodes Vietnamiennes dans cette région. Elles étaient toutes très grandes, et luxueuses.

    Nous en avons visité une; il faisait déjà presque nuit quand nous y arrivâmes. Elle avait un escalier très haut menant directement de la cour à la grande salle de l’autel. L’escalier comptait près d’une centaine de marches, tout en marbre, avec deux grands dragons le long de la rampe. Le jardin était immense, avec ici deux grandes cigognes en marbre blanc, là un grand éléphant ; à l’autre coin un banc en marbre à l’ombre d’un figuier ; plus loin un petit pont enjambant un filet d’eau bordé de quelques touffes de bambous ; et plus loin encore un petit bassin aux nénuphars … etc … etc… En plein jour, cela devrait être magnifique, somptueux ! La construction de la pagode n’était pas encore tout à fait terminée, faute de fonds. Sûrement le vénérable responsable attendait encore des dons de la part des fidèles.

    Nous avons visité une école ; celle ci avait une infirmerie pour soigner les maladies, les petites blessures sans gravité des élèves, et aussi des gens du village et des alentours. Sur le mur il y avait des dessins : « Il faut se couper les ongles, il faut se laver les mains, il faut se brosser les dents, il faut se laver régulièrement…etc …etc. » Rien qu’avec cela on pouvait en déduire que la notion d’hygiène et de propreté des gens dans ces petits villages laissait beaucoup à désirer.
    L’infirmerie n’avait que des plantes (médicinales ?) !!!

     

    21/12/2010. Dans la cour de la pagode Japonaise près de Bodh Gaya, il y avait une statue du Bouddha assis, la plus grande du monde, dit-on, formée par des blocs de marbre. Au pied de la statue, se trouvaient celles de ses dix grands disciples :

    Ananda : un cousin et assistant personnel du Bouddha. Il avait une mémoire infaillible. C’était lui qui récitait les enseignements du Bouddha, commençant toujours par la phrase : « Ainsi ai-je entendu … »

    Sariputa: L’aîné de tous les disciples du Bouddha. Sa sagesse était incomparable.

    Punna : Très miséricordieux. Il connaissait beaucoup de plantes medicinales et excellait dans la composition et le mélange des diverses plantes pour guérir des maladies.

    Mahakaccana : Le plus éloquent prêcheur des disciples du Bouddha, capable de répondre à toutes les questions.

    Rahula : Le fils du Bouddha. Après avoir eu déjà 1250 disciples, Bouddha revint dans son pays natal. La princesse Yasodhara, la mère de Rahula, depuis sa fenêtre, dit à son fils, « L’homme en tête du groupe qui entre dans la cour impériale est ton père, va lui réclamer ta part d’héritage. » Et Rahula courut à la rencontre de son père. Bouddha l’autorisa à le suivre. Il était le plus jeune des disciples lorsqu’il rejoignit le sangha (Il n’avait que 9 ans).

    Subhuti : Celui des disciples du Bouddha qui comprenait le mieux le principe de non-substantialité: Tout objet ou phénomène est « vide » d’existence (ou de substance) propre et dépend d’innombrables influences pour « exister ». Tous les phénomènes physiques ou psychiques sont à la fois conditionnés et conditionnants, aucune chose n’est isolée de celles qui l ‘accompagnent, la précèdent et la suivent parce que tous les phénomènes sont à la fois causes et effets, c’est la production conditionnée. La non-substantialité est la véritable nature de toute chose et rien n’a d'existence propre.

    Upali :  C’était un barbier. Le roi Suddhodana décréta qu’au moins un membre de chaque famille noble du royame devrait suivre les enseignements du Bouddha. Upali qui rasait les têtes des princes et des comtes ne cessait de pleurer. Alors ces nobles lui demandèrent pourquoi il pleurait quand il leur rasait la tête. Il répondit : « Je suis d’une caste subalterne, et je ne pourrai jamais suivre le Bouddha ». Cette histoire parvint à l’oreille du Bouddha et Upali fut autorisé à le joindre dans le sangha.

    Mahakassapa : Parmi les disciples, il prêchait l’ascèse la plus rigoureuse. Il allait toujours dans les villages les plus pauvres pour demander l’aumône. Un jour, il alla chez une vieille femme très pauvre, atteinte de lèpre aux derniers stades de la maladie. La femme lui dit qu’elle n’avait rien dans la maison à lui offrir. Mahakassapa indiqua le bol de lait à moitié vide sur la table. La vieille femme avait très peur, car elle n’osait par lui donner son bol de lait à moitié consommé comme offrande. Mais Mahakassapa insista. Elle prit le bol dans ses deux mains et alla vers lui pour le lui offrir ; mais en chemin la phalange d’un de ses doigts, pourrie par la maladie, tomba dans le bol. Mahakassapa avala tout de suite ce qui restait de lait dans le bol. La vieille femme fut alors admise dans le ciel.

    Mahakassapa est celui à qui Bouddla a offert la moitié de son trône, et à qui il assigna la responsabilité de garder ses toges et son écuelle pour les remettre au Bouddha du futur.

    Mahamoggallana : le premier parmi les disciples en matière de pouvoirs surnaturels. Il est allé une fois dans un autre monde chercher de la nourriture pour Bouddha, car il régnait à ce moment là, en ce monde terrestre une sévère disette.

    Il a sauvé sa mère de l’enfer, histoire que nous connaissons bien par le sutra Ullambana, que son adéquation avec l'idéal de piété filiale a rendu populaire chez nous, les Vietnamiens, pour qui le culte des ancêtres est essentiel.

    Anuruddha : Issu du clan Shakya, cousin du Bouddha. Il était le premier en ce qui concerne l'oeil divin.

    Parmi les disciples du Bouddha, deux n’étaient pas autorisés à entrer au Nirvana : Mahakassapa devait rester en ce monde, garder les toges et l’écuelle du Bouddha Sākyamuni pour les remettre au Bouddha du futur. Le deuxième était Pindola Bharadvaja. Celui ci avait aussi des pouvoirs surnaturels: dans le village il y avait un homme qui s’amusait à toujours présenter des offrandes aux moines dans un panier accroché sur le haut sommet des arbres; Pindola souvent utilisait ses pouvoirs magiques pour les récupérer. Or Bouddha avait interdit l’usage de ces pouvoirs devant les gens du village, pour éviter que ces gens ne croient que le but de l’enseignement du bouddha est l’obtention des pouvoirs magiques. Pindola fut alors envoyé dans un autre monde. Des années plus tard, ses amis disciples qui l’aimaient en raison de son tempérament rieur, demandèrent au Bouddha de lui permettre de revenir en ce monde terrestre. Bouddha accepta mais lui interdit d’entrer au Nirvana, il devrait rester en ce monde pour être le témoin des fidèles qui feront des offrandes.

    Dans la pagode Khmère, il y avait une peinture représentant une femme enceinte, se tenant devant un public et pointant un doigt accusateur vers le Bouddha. « C’est lui, lui, le père de l’enfant que je porte en mon sein » dit notre vénérable Thich Nguyên Hùng avec l’accent d’une femme en colère. Mais, après cela la femme trébucha et tomba devant le public. L’oreiller qu’elle cachait devant son ventre est tombé par terre, selon l’histoire. Nous étions tous pris d’un fou rire, devant la façon si humoristique du vénérable, de raconter l’histoire.

     

    22/12/2010. Visite du mont Kukkutagiri, où se trouvait la grotte de Mahakassapa.

    Je n’ai pas pu y aller. La montée jusqu’à la grotte était très abrupte et périlleuse. J’étais trop malade ce jour là. Je regrette beaucoup maintenant de n’avoir pas pu y aller.

    L’après-midi nous sommes allés visiter le village de la jeune Sujata qui a offert le bol de lait au Bouddha avant son Illumination, et l’ancienne place de la maison du chevrier qui a offert au Bouddha la botte d’herbe Kusa.

     

    23/12/2010. Visite d’une école dirigée par une sœur Vietnamienne, Sœur Tu-Tâm, et distribution de cadeaux aux élèves (cahiers, stylos, crayons, gommes etc. .. et … bonbons).
     

    Après-midi : Visite de la forêt Tapovana où Bouddha a passé 6 ans à pratiquer l’ascèse, près de la rivière Nairanjana. La colline était assez haute, mais le chemin qui menait jusqu’au sommet avait été aménagé, et dallé. On pouvait acheter des cannes, ou louer des « palanquins ».

    J’ai pu aller jusqu’au sommet à pied, mais j’ai dû m’arrêter à plusieurs reprises pour souffler. Parmi les jeunes de notre groupe, il y en a qui montaient jusqu’au sommet en « se prosternant tous les trois pas ».

    Au bord du chemin, il y avait beaucoup de singes. Des pèlerins touristes achetaient des biscuits vendus au bord du chemin pour les jeter aux singes, alors que beaucoup de mendiants se trouvaient là, et qu’ils ne leur accordaient aucune attention. Cela me revoltait profondémement. Spécialement ici, les mendiants restaient assis immobiles sur place, et ne se regroupaient pas autour de vous à vous étouffer, quand vous leur donnez de l’aumône.

    24/12/2010.

    Visite du mont Gijjhakūṭa, où Bouddha enseignait le Sutra du Lotus et autres du grand véhicule.

    Visite de la prison (ruine) où le roi Bimbasara a été enfermé par son fils Ajatashatru. Depuis le hublot grillagé de la prison, le roi pouvait voir le mont Gijjhakuta, où séjournait Bouddha Shākyamuni. C’était pour le roi une grande consolation, car il était un des plus grands fidèles du Bouddha. Visite de la ruine du palais de la reine Vaidehi, femme de Bimbasara. Ici la reine a demandé à Bouddha de lui enseigner comment faire pour renaitre en un lieu où règnerait la paix, et où il n’y aurait pas de souffrance. Bouddha lui a enseigné la pratique d’évoquer le nom du Bouddha Amitabha et le sutra d’Amitāyur-dhyāna. Il est dit que la reine a pu visualiser la Terre Pure d’Amitabha.

     C’était l’anniversaire de la naissance du Bouddha Amitabha.

    Bouddha Amitabha se distingue pour ses 48 grands voeux formulés à l’égard de tous les êtres dont le 18ème ci-après, très connu, concerne la pratique d’appeler son nom, c’est à dire de prendre refuge en lui :

    « Si, quand j’atteindrai la Bouddhéité, tous les êtres qui sincèrement me font complètement confiance, désirent renaître dans ma terre, appellent mon nom, même juste 10 fois, et ne renaissent pas en mon lieu, puissé-je ne pas réaliser l’Eveil suprême ».

    N’importe qui, instruits ou illettrés, riches ou pauves, dans n’importe quelle circonstance, peut invoquer le nom d’Amitabha: «Dans le Bouddha Amitabha je prends refuge», ne serait-ce que 10 fois, et il pourra renaître dans la Terre Pure du Bouddha Amitabha.

    Le soir : Le baptême bouddhiste de cinq membres de notre groupe au temple Maha Bodhi. C’était le dernier jour de notre séjour à Bodh Gaya. Je sentis tout d’un coup une pointe languissante de nostalgie …

     

    25/12/2010 : Sur la route vers le Népal, nous visitâmes la pagode Kiêu-Dàm-Di dont une soeur Vietnamienne avait la charge, et autres lieux saints.

    Nalanda : Dans le nord-est de l’Inde.

    L'université n’est plus maintenant qu’une ruine, avec des restes de murs, des fondations excavées sur une aire bien vaste. L’université a été reconstruite vers le 5ème siècle de notre ère et considérée comme un chef d’œuvre architectural. C’était la première université dans l’histoire bouddhiste de l’Inde, et c’était la première université résidentielle du monde. L’université grandit rapidement en importance et connaît une renommée internationale qui attire des moines étudiants du Tibet, de Birmanie, de Chine, d'Indonésie et aussi de Corée, et du Japon.  Dans son apogée l’université comptait plus de 10,000 étudiants.

    Bouddha Shakyamuni est mentionné être resté plusieurs fois à Nalanda; il résidait habituellement dans le « jardin des manguiers ».

    Xuanzang, pèlerin bouddhiste chinois, célèbre et bien connu par son roman classique « Le journal du pèlerinage vers l’Ouest » a fait des études ici, a ramené un grand nombre de textes en sanskrit et en pâli avec lui, et les a traduits ensuite en langue chinoise.

    Beaucoup de singes ont élu domicile ici, dans l’enceinte de l’université. Ils étaient très audacieux. Quelqu’un a crié derrière moi : « Attention aux singes ! Ils arrachent les sacs des pèlerins, pensant qu’il y a de la nourriture, car souvent les pèlerins leur donnent à manger ». Je pensai avec beaucoup d’amusement « Si vraiment ils nous arrachent les sacs, comment les poursuivre pour les récupérer ? Ils sautent d’un arbre à l’autre, de l’intérieur de l’enceinte, à l’extérieur… ! » Mais ceci me fit penser : « Je n’ai pas vu de pickpockets dans les rues depuis notre arrivée en Inde. C’est un point positif. » Puis une autre chose que j’ai remarquée: « les gens ici vivent pacifiquement les uns avec les autres, les maisons sont côte à côte, il n’y a pas de haies, de séparations entre les maisons, il n’y a pas de notion de « ceci est à moi » …

     

     

      

    (à suivre - page suivante)


    votre commentaire


    Suivre le flux RSS des articles de cette rubrique
    Suivre le flux RSS des commentaires de cette rubrique